Mercredi 3 août 2011 3 03 /08 /Août /2011 21:04

 

Phạm Hữu Trác

Hiệp định Genève 20-7-1954 (*) lấy sông Bến Hải làm ranh giới đình chiến giữa hai miền Nam Bắc, từ đó hai chữ Bến Hải đi vào lịch sử Việt Nam.


    Sông Bến Hải còn có tên là Rào Thanh bắt nguồn từ vùng núi Động Chân, tỉnh Quảng Trị, thuộc dãy Trường Sơn, cao hơn mặt biển 500m, chẩy theo hướng từ tây nam sang đông bắc, đổ ra biển ở Cửa Tùng, thuộc quận Vĩnh Linh, Quảng Trị. Sông dài chừng 100km, nơi rộng nhất khoảng 200m, hai đầu sông rất hẹp, ở thượng nguồn nơi có nhà thờ Phước Sơn, sông chỉ rộng 20m, ở Cửa Tùng lòng sông rộng 30m. Sông Bến Hải cũng còn được gọi là sông Bến Hói, theo tiếng địa phương hói có nghĩa là dòng sông nhỏ, từ Bến Hói đọc trại ra là Bến Hải.

Từ đầu nguồn sông Bến Hải chẩy được 80km thì gặp sông Sa Lung từ phía tây bắc đổ vào, hai sông hợp lưu chẩy tiếp ra biển, qua làng Minh Lương ở bờ bắc nên có tên là sông Minh Lương. Do phải kiêng húy tên vua Minh Mạng, nên cả tên làng và tên sông đều đổi thành Hiền Lương, cây cầu gần ngã ba sông cũng mang tên là Hiền Lương.


Sông Bến Hải (Hình 1)
Nguồn: Google Maps

Cầu Hiền Lương nối liền quốc lộ số 1 bắc qua sông Bến Hải, nơi sông rộng hơn 150m, lui một ít về phía nam vĩ tuyến 17, thuộc quản hạt quận Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Tính đến nay đã có nhiều lần cấu trúc chiếc cầu bắc qua sông Bến Hải thay đổi, nhưng cây cầu lịch sử vẫn là cây cầu từ 1952 đên 1967. Cầu bắt đầu xây dựng bằng gỗ thô sơ năm 1922 dành cho người đi bộ, thay đổi nhiều lần đến khi xây lại năm 2003 tất cả là 8 lần.

Cây cầu mà tôi đã đứng trên đó do người Pháp xây dựng năm 1952 bằng bê tông cốt sắt dài 178m, rộng 4m, hai bên có thành chắn cao 1,2m, trọng tải tối đa 18 tấn, gồm 7 nhịp, mặt cầu lát bằng 894 tấm ván gỗ thông, chia ra miền bắc một nửa, miền nam một nửa, mỗi bên 89m. Ở giữa cầu ngăn ra bằng hai vạch song song, trừ cảnh sát hai bên có thể đi qua hết chiều dài của cầu, người khác chỉ được đứng trong phạm vi giới hạn nam bắc của mình. Cây cầu này tồn tại 15 năm từ 1952 cho đến 1967 khi máy bay Mỹ phá sập.

Mỗi đầu cầu có một đồn cảnh sát 16 người (phía bắc gọi là đồn công an) thường xuyên cử hai nhân viên tuần tiễu an ninh trên cầu. Nghe nói ở Cửa Tùng cũng có một đồn cảnh sát ở bờ bắc thuộc xã Vinh Quang và một đồn ở phía nam thuộc xã Cát Sơn. Sau năm 1965, khi chiến tranh leo thang thì hệ thống đồn bót dọc hai bên sông Bến Hải đều ngưng hoạt động.


Câu Hiền Lương cũ và mới (Hình 2)
Nguồn: Google Maps

Phục vụ tại sư đoàn 1 bộ binh từ 1963 đến 1965 (1), tôi đã nhiều lần ra thăm cầu Hiền Lương, mổi lần đối với tôi là một kỷ niệm khó quên. Vì là trong vùng 5 cây số phi quân sự, nên mỗi lần đến cầu đều phải mặc thường phục, nếu đi quân xa thì mang phải mang số ẩn tế, có khi vội thì lấy bùn bôi lấp đi bảng số quân xa.

Lần đầu tiên vào cuối năm 1963, lúc mới đến đơn vị mới là đã muốn đi thăm Bến Hải. Từ Huế theo quốc lộ số 1, qua Quảng Trị rồi Đông Hà, khi vào tới địa hạt Vĩnh Linh là đã thấy lòng nao nao vì nhớ nhà sau 9 năm xa miền Bắc. Dòng sông chẩy chậm, trên cầu gió nhẹ, đứng ở bên này vạch trắng mà nhớ lại những xót xa lúc xuống tầu há mồm rời miền Bắc.

Lần khác theo đoàn sinh viên Sài Gòn ra thăm Huế đi cùng với tướng Nguyễn Chánh Thi. Khi đoàn người tới chân cầu thì hai nhân viên công an miền Bắc sang bên này quan sát, quả nhiên không bao lâu sau thì có tin cộng sản phản đối sự hiện diện của tướng Thi ở vùng phi quân sự. Mấy ông Ấn Độ, Ba Lan, Gia Nã Đại trong Ủy hội Quốc tế Đình chiến từ đâu bỗng thấy kéo đến, bên ta trả lời là tướng Thi ngoài chức vụ tư lệnh sư đoàn có là đại biểu chính phủ tại khu 11 chiến thuật, một trách vụ hành chính. Thế là xong một hiệp, mà không biết trong vòng 21 năm đã có bao nhiêu vụ khiếu nại qua hai bên cầu.


Cầu Hiền Hương (cũ)
Nguồn: Panoramio (Google)

Khoảng giữa tháng 9-1964 vài đồng nghiệp và tôi rủ nhau ra thăm Bến Hải. Hôm ấy tướng Lâm Văn Phát kéo quân vào Saigon áp lực đảo chính, ở ngoài giới tuyến nghe rõ nhạc hành quân trên đài phát thanh Saigon cùng với tin tức và kêu gọi của hai phe, đảo chính và phản đảo chính. Ở trên cầu Hiền Lương hai anh công an miền Bắc đến chào hỏi “đồng bào”, rồi tỏ ý chê bai, nói với chúng tôi là mấy anh tướng miền Nam thích đánh nhau tranh dành quyền hành, anh bạn Lý Hồng Sen nhanh trí đáp lại:
Bên tôi dân chủ như vậy đó, ai làm việc không được thì bắt xuống, bây giờ để chứng tỏ dân chủ, ở giữa cầu này, tôi hô đả đảo Nguyễn Khánh, đồng chí phải hô đả đảo Hồ Chí Minh.

“Nam Bắc Một Nhà” - Giữa nhà sao lại xây cổng?
Nói xong anh giơ tay hô lớn đả đảo Nguyễn Khánh, rồi đòi anh công an trả nợ phần của anh đối với Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên anh công an bị ngọng, trách ngược lại người “đồng bào” kỳ cục. Chúng tôi bồi thêm, cật vấn anh ta tại sao chân cầu phía bắc lại có cái cổng lớn trên ghi bốn chữ “Nam Bắc Một Nhà”, giữa nhà sao lại xây cổng?

Khi Không quân Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu oanh tạc bắc vĩ tuyến 17, nhiệm vụ của quân y sư đoàn là bay trên trực thăng phía nam sông Bến Hải để yểm trợ cứu cấp trường hợp phi công bị trúng thương. Tôi nhớ hình như hồi đó quân đội Việt Nam sử dụng trực thăng loại Huey, chở được tám người, hai cáng thương, thường bay hai chiếc để hỗ trợ lẫn nhau. Trường hợp may mắn, chúng tôi đã có hy vọng tiếp cứu đuợc phi công Phạm Phú Quốc, nếu máy bay trúng đạn của anh còn bay được sâu về phía nam. Cuối cùng chúng tôi chẳng cứu được ai mà trớ trêu hơn nữa, chính chúng tôi phải lo cho mình, số là hôm ấy một trong hai chiếc trực thăng hỏng máy, phải đáp xuống đất, tất cả dụng cụ trang bị quân sự và y khoa phải tháo gỡ cùng với phi hành đoàn đưa sang chiếc thứ hai bay về sân bay thành nội Huế.

Ngày 19-3-1965 tôi cũng muốn ra chứng kiến cảnh trục xuất giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến và ký giả Cao Minh Chiếm qua cầu Hiền Lương, nhưng vì bận công tác khác nên không thể ra coi được.

Năm 1967 cầu bị phi cơ Mỹ đánh sập, đến 1972 khi đem quân chiếm miền Nam, công binh cộng sản bắc cầu phao qua sông Bến Hải lùi 20m về phía thượng lưu cầu cũ. Năm 2003 công việc phục chế cầu Hiền Lương phỏng theo kiểu cũ hoàn thành, mặt cầu được lát bằng gỗ lim.

Tôi cứ băn khoăn về những yếu tố nào trong cuộc điều đình mặc cả giữa Pháp và Việt Minh trong cuộc đàm phán Genève đã đưa đến thỏa thuận nhận sông Bến Hải làm ranh giới, Cho đến mấy năm gần đây nhờ những tài liệu mới xuất bản (2) mới có thể lần ra manh mối việc chia đôi đất nước. Xin ghi lại ở đây những nét chính yếu.

Vào tuần lễ thứ ba của hội nghị, phương án vạch một giới tuyến nam bắc hầu như đã được công nhận, Phạm Văn Đồng đưa ra ý kiến lấy vĩ tuyến 13 làm ranh giới, các nước phương tây phản đối dữ dội.

Chu Ân Lai thấy cần phải thuyết phục phía Việt Minh, trên đường từ Genève trở về Bắc Kinh qua thăm Ấn Độ và Miến Điện, bèn triệu tập một phiên họp tại Quảng Tây với Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, cùng hai cố vấn Trung Quốc bên cạnh Việt Minh là La Qúi Ba và Vi Quốc Thanh, để thông báo cho biết tình hình đàm phán và vấn đề chia vùng.

Cuộc gặp gỡ này diễn ra tại Liễu Châu (thành phố thuộc tỉnh Quảng Tây) trong 8 phiên họp từ ngày, từ 3 đến 5 tháng 7, 1954. Sau khi Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh trình bày tình hình chiến trường, Chu Ân Lai thuyết giảng dài về vấn đề chiến tranh và hòa bình. Ông trình bày rất tỉ mỉ, cho rằng trước mắt có ba khả năng, thượng sách là hòa được, trung sách là đánh rồi hòa, hạ sách là đánh tiếp. Cuối cùng ông cho biết có hy vọng vạch đường phân giới tạm thời tại vĩ tuyến 16. Ông khuyến dụ: từ vĩ tuyến 16 trở ra bắc là nơi Việt Nam hưng quốc, có 13 triệu dân, có hải cảng, có thể xây dựng. Vì người Pháp đòi chia vùng ở vĩ tuyến 18 và vì vĩ tuyến 16 ở phía nam Đà Nẵng nên muốn trấn an người Pháp, ông bảo cảng Đà Nẵng, Huế và quốc lộ số 9 (từ Đông Hà sang Lào, ở phía bắc thị xã Quảng Trị) có thể đặc biệt lưu lại cho Pháp một hai năm, như thế chúng ta có thể đòi các điều kiện khác.

Hồ Chí Minh nói vào lúc xế chiều ngày 4 tháng 7, ông nói ta phải giúp Mendès-France khỏi đổ, hạ quyết tâm tranh thủ hòa bình. Buổi tối hôm đó Chu Ân Lai báo cáo về trung ương, xin lùi ngày về Bắc Kinh, họp thêm một ngày nữa liên quan đến phương án giải quyết cụ thể.

Trong phiên họp sáng ngày 5 tháng 7, 1954 Võ Nguyên Giáp biểu thị đồng ý chọn vĩ tuyến 16, nhưng nói thêm vì Phạm Văn Đồng đang đề xuất phương án vĩ tuyến 13, nên có thể lùi từng bước, đến vĩ tuyến 16 là giới hạn cuối cùng, khi rút quân miền Nam thì rút từ cấp tỉnh trở lên, nhưng từ cấp huyện trở xuống và đội du kích không rút, đem cất giấu vũ khí.

Vi Quốc Thanh đồng ý với ý kiến chủ hòa của Chu Ân Lai, nếu tiếp tục đánh, có thể đuổi được kẻ địch yếu, nhưng lại đưa vào kể địch mạnh (Mỹ). Đó là tình hình đòi hỏi chúng ta phải tránh né nhất. Chu Ân Lai nói xen vào: đó không phải là giả thiết mà là sự thật.

Khi kết quả hội nghị Liễu Châu đã thực hiện hoàn toàn theo dự kiến của Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh phát biểu có tính cách tổng kết, hiện nay chúng ta đang đứng trước ngã tư đường, có khả năng hòa cũng có khả năng chiến, phương hướng chủ yếu là tranh thủ hòa chuẩn bị chiến. Bởi vì khẩu hiệu trước đây là kháng chiến đến cùng, bây giờ lại muốn hòa, đối với người bình thường thậm chí là cán bộ, rốt cuộc thì cái nào đúng đây. Nên vấn đề hàng đầu là đả thông tư tưởng, nếu chuẩn bị tiếp thu Hà Nội, thì phải chuẩn bị một loạt cán bộ mà hiện nay không đủ, vẫn cần các đồng chí cố vấn giúp đỡ.

Ngay trong ngày kết thúc hội nghị, Hồ Chí Minh đã tự tay thảo chỉ thị 5/7 gửi cho Phạm Văn Đồng, xác định “phương án thấp nhất trong đàm phán” (chấp nhận vĩ tuyến 16), chỉ thị này gửi qua Trung ương đảng Cộng sản Trung quốc trước, nếu không có ý kiến, sẽ chuyển cho đồng chí để tiến hành.

Tối ngày 5 tháng 7, cử hành phiên họp thứ tám, chủ yếu bàn về tình hình sau khi ngưng bắn, tiếp quản thành thị, hội nghị thảo luận và sửa chữa bốn điều trong “Bố cáo yên dân khi vào thành phố” do La Qúi Ba khởi thảo, tiếp theo bàn luận và sửa chữa “Chính sách vùng tiếp quản” cũng do La Qúi Ba khởi thảo. Cuối cùng Chu Ân Lai tuyên bố kết thúc hội nghị.

Một tuần lễ sau khi về Bắc Kinh, Chu Ân Lai trở lại Genève ngày 12-7-1954, nghe các phụ tá báo cáo tình hình đàm phán. Thứ trưởng Ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng đoàn đại biểu Việt Minh lần lữa không chịu theo chỉ thị 5/7 của Hồ Chí Minh là do đã đề cao lực lượng của mình và đặc biệt là đánh giá quá cao chiến thắng Điện Biên Phủ, vì thế đã không nhượng bộ thích ứng, đồng thời còn có tư tưởng Liên bang Đông Dương, không phân biệt nổi cách mạng nhân dân và đấu tranh giải phóng dân tộc là hai loại không cùng tính chất.

Khó khăn hiện nay là Pháp chủ trương lấy vĩ tuyến 18 làm giới hạn, trong khi Trung ương Cộng sản Trung Hoa và Việt Nam đồng ý lấy vĩ tuyến 16, nhưng đoàn đại biểu VN vẫn dừng lại ở vĩ tuyến 14-15.


Hoành Sơn Quan ở Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh
9 giờ 30 tối hôm đó Chu Ân Lai đến khách sạn của đoàn đại biểu Việt Nam hội đàm với Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Phan Anh, Trần Công Tường thì được biết ngày 11 và 12-7-1954 Phạm Văn Đồng đã gặp Mendès-France, Phạm Văn Đồng thử thăm dò vĩ tuyến 16, nhưng Mendès-France ngang nhiên từ chối, kiên trì đòi vĩ tuyến 18. Đến nửa đêm, nhận thấy nơi Phạm Văn Đồng trú ngụ không đủ bảo đảm bí mật, Chu Ân Lai đề nghị về nơi ông trú ngụ tại biệt thự Vạn Hoa bàn tiếp, tại đây Chu Ân Lai cho Phạm Văn Đồng biết là nếu tiếp tục đánh nhau, ít ra cũng phải ba năm, thế nhưng Mỹ can thiệp là điều khó tránh khỏi, lúc đó không phải là vấn đề ba năm nữa.

Chu Ân Lai cho rằng nếu VN muốn giữ vùng tập kết tại Liên Khu Năm (Quảng Ngãi, Bình Định) thì phía Pháp cũng đòi giữ vùng tập kết tại đồng bằng sông Hồng. Nếu dứt khoát lấy ranh giới vĩ tuyến 16 thì có thể thành lập một dạng quốc gia ở phía bắc, qua phổ thông bầu cử mà hoàn thành thống nhất.

Chu Ân Lai còn cho biết sau chỉ thị 5/7, Mao Trạch Đông có thương nghị lại với Hồ Chí Minh và hai người đã đồng ý lấy đường số 9 làm giới tuyến, dù điểm này không viết trong văn kiện 5/7.

Ngày hôm sau, 13-7-1954, Chu Ân Lai tiếp Mendès-France lúc 10 giờ 30 sáng tại biệt thự Vạn Hoa. Thủ tướng Pháp trải ra một bản đồ trước mặt Chu Ân Lai và nói: không có đường giới tuyến nào thích hợp hơn vĩ tuyến 18. Nhất định ngài sẽ nói với tôi Việt Minh chiếm nhiều nơi giữa vĩ tuyến 13 đến 16, thế nhưng giữa vĩ tuyến 16 và 18 chúng tôi có vùng chiếm lĩnh.

Không thể lấy diện tích ra để so sánh, trên thực tế những thành phố như Hà nội Hải phòng, Huế, Tourane, đồng bằng sông Hồng, tính quan trọng về dân số, chính trị, kinh tế đều lớn hơn những vùng mà Việt Minh rút khỏi. Lấy dân số ra mà nói, vùng chúng tôi phải rút là 300.000 dân, còn Việt Minh chỉ phải rút có 30.000 người.


cổng An Nam tức là Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang
Vạch đường giới tuyến về địa lý, lịch sử và logique đều nên lấy porte d’Annam (cổng An Nam tức là Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang) gần vĩ tuyến 18 là hợp lý nhất. Vì biết Mendès-France chiều hôm ấy sẽ về Paris gặp Foster Dulles, Chu Ân Lai nhấn mạnh muốn để cho hòa bình được củng cố phải có sự bảo đảm của các nước tham dự, ám chỉ không muốn Mỹ đứng ngoài cuộc đàm phán, đồng thời khéo léo cho biết Việt Minh có khả năng nhượng bộ.


Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang
Đến ngày 19 tháng 7, cuộc đàm phán vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng, vấn đề vạch đường giới tuyến còn giằng co. Hồi 12 giờ 45 ngày hôm đó, Mendès-France và Eden cùng với các phụ tá đến gặp Chu Ân Lai thảo luận một giờ đồng hồ. Khi kết thúc Eden đề nghị phụ tá Caccia của ông sẽ gặp Trương Văn Thiên thảo luận thêm vào buổi chiều. Năm giờ bốn mươi lăm phút chiêù ngày 19-7-1954, thứ trưởng Trương Văn Thiên đến nơi ở của phái đoàn Anh, hội kiến với Caccia, phụ tá Eden. Trương Văn Thiên thông báo nhượng bộ cuối cùng, có thể chấp nhận đường giới tuyến khoảng 10 cây số về phía bắc đường số 9. Thiên nhấn mạnh nếu đối phương không tiếp nhận, chúng tôi chỉ có thể mua vé bay bay về nhà. Caccia nói 10 cây số sợ rằng hẹp quá. Thiên nói có thể bắt chước Triều Tiên, thiết lập khu phi quân sự 5 cây số ở mỗi bên. Caccia đề nghị là giữa đường số 9 và vĩ tuyến 17 có hai con sông, có thể chọn một trong hai con sông đó làm giới tuyến (Bến Hải và Sa Lung?). Tiếp đó hai người bàn đến vấn đề tổng tuyển cử…

Chiều tối ngày 20 tháng 7 năm 1954 vì đại biểu Campuchia, đại biểu Lào và đại biểu Việt Nam Ngô Đình Luyện lại có những đề nghị khác, cuộc thương lượng phải kéo dài thêm, mà hạn chót của Mendès-France đối với quốc hội Pháp là nửa đêm, nên đồng hồ trong phòng họp phải ngưng lại vào lúc 24 giờ. Mãi đến 3 giờ 20 sáng đại biểu quân sự hai bên mới có thể tề tựu tại đại sảnh của Liên Hiệp Quốc, thiếu tướng Delteil đại diện quân đội viễn chinh Pháp, thứ trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu đại diện Việt Minh ký tên trên hiệp định đình chiến. Sau khi ký xong Tạ Quang Bửu tươi cười tới trước mặt Delteil đề nghị bây giờ chúng ta hãy cùng uống một ly sâm banh. Delteil trả lời: chắc ông biết rõ là tôi không thể nhận lời, nói xong ông ta đi thẳng về phía phái đoàn của mình.

Sông Bến Hải đi vào lịch sử từ giờ phút đó.



(1) Hồi đó Sư đoàn 3 Bộ binh của Quân lực Việt Nam Công Hòa chưa thành lập, Sư đoàn I Bộ binh trách nhiệm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, tức là khu chiến thuật 11.
(2) Phần lớn tài liệu trích từ quyển “Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngoã hội nghị” bản chữ Hán do Tiền Giang (钱江,Qian Jiang) viết xong 24-11-2004, bản dịch sang Việt ngữ “Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954” của Dương Danh Dy.
DCVOnline: (*)The Geneva Agreements of 1954 (còn gọi là “Geneva Accords”)
Par phusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Mardi 26 juillet 2011 2 26 /07 /Juil /2011 04:42

 

Tiến sĩ Trần An Bài nguyên là cựu Thẩm Phán Việt Nam Cộng Hòa, cựu Giáo Sư giảng dạy ngành Phạm Tội Học tại Đại Học Vạn Hạnh, giảng sư môn Hình Sự Tố Tụng tại Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia. Ông chuyên nghiên cứu về luật pháp tại Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam Ts Trần An Bài

Bài thuyết trình cho ngày Truyền Thống Cảnh Sát QG/VNCH tại Boston, Massachusetts, 12-6-2011

 

 

Tiến Sĩ TRẦN AN BÀI

 

Sử sách Việt Nam có ghi rằng: Vào năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn Thập Nhị Sứ Quân, liền tuyên bố thành lập một quốc gia độc lập, mang quốc hiệu Đại Cồ Việt và tự xưng là Hoàng Đế, đóng đô ở Hoa Lư. Đinh Bộ Lĩnh tức Đinh Tiên Hoàng hồi còn nhỏ chỉ là một chú bé chăn trâu ở làng Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Chú thường bắt chúng bạn khoanh tay làm kiệu cho chú ngồi để chỉ huy đánh trận và dùng bông lau làm cờ tiến quân. Từ đó, Bông Lau và Cờ Lau đã trở nên những hình ảnh quen thuộc, phát xuất từ miền quê VN và nhắc nhở mọi người về trang sử oai hùng của Đinh Bộ Lĩnh trong công cuộc dẹp loạn để dựng xây một quốc gia độc lập và tự cường, có quân đội vững mạnh, làm tiền đề cho Lê Hoàn mười hai năm sau đánh bại quân Tống, bảo vệ độc lập cho Tổ Quốc (1). Phất ngọn Cờ Lau, Đinh Bộ Lĩnh Hoa Lư rờm rợp bóng Quân Kỳ Đại Cồ Việt sáng ngời trang sử Loạn Sứ Quân qui phục dưới cờ ! -- (Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích) Cách đây 2 năm, tôi có vinh dự được Hội Ái Hữu CSQG vùng Boston, Massachusetts mời đến để thuyết trình về đề tài "Luật Rừng của Cộng Sản Việt Nam" (CSVN) (2). Mới đây nhất, ngày 4-4-2011, CSVN đã đem Luật Rừng ra xét xử con trai một công thần của chế độ là luật sư Cù Huy Hà Vũ trong một phiên tòa bẩn thỉu, mà cả thế giới cũng như mọi thành phần dân chúng trong nước đều phỉ nhổ. Tôi đã thuyết trình về bản án này tại Oakland, California, ngày 16-4-2011, nhân dịp kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Khối 8406 và đã chỉ trích nặng nề bản án này và đặt tên nó là "Bản Án Hai Bao Cao Su Con Đầm" (3). Sau này, các họa sĩ đã trình diện toàn ban lãnh đạo Đảng CSVN đội những chiếc nón cao su "Con Đầm" trông rất là kệch cỡm và được báo chí chọn là bức hình khôi hài nhất của tháng Tư Đen năm 2011 (4). Hôm nay, tôi lại được hân hạnh lần thứ hai đến thuyết trình tại quê hương của cố Tổng Thống Kennedy, người đã bật đèn xanh cho cuộc Cách Mạng 1963 tại Việt Nam, đưa đến cái chết của anh em TT. Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất VNCH và phần nào dẫn đến sự sụp đổ toàn diện của miền Nam Việt Nam vào năm 1975. Cũng trong phần hồi tưởng ấy, hôm nay tôi xin trình bày với Quý Vị viễn tượng về một cuộc cách mạng khác, một cuộc cách mạng sẽ đem chúng ta đến ngưỡng cửa của Hy Vọng, đến sự Phục Sinh của quốc gia VN đã bị Đảng CSVN khống chế từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đến nay. Cuộc cách mạng ấy được gợi ý từ trang sử Bông Lau oai hùng của Đinh Bộ Lĩnh ngày xưa và "Cách Mạng Hoa Lài" ở Trung Đông mới đây, mà tôi đặt tên là "Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam". Bài thuyết trình được chia thành hai phần: 1. Đón chào Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam. 2. Diễn tiến Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam. PHẦN I: Đón chào Cách Mạng Bông Lau tại VN Đã có rất nhiều cuộc cách mạng xảy ra trên khắp thế giới và hiện nay, dân chúng Việt Nam đang trông đợi sớm có một cuộc cách mạng để khai tử chế độ CS độc tài và gian ác. A. CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TRÊN THẾ GIỚI a) Định nghĩa Cách mạng là thay đổi toàn diện, bỏ cũ thay mới. Về phương diện chính trị, cách mạng là bất thần lật đổ chế độ đang điều khiển guồng máy quốc gia - thông thường là bằng võ lực - để thay thế bằng một chế độ mới hoàn toàn. b) Các cuộc cách mạng Trong lịch sử thế giới, có nhiều cuộc cách mạng vĩ đại: - Cách Mạng Hoa Kỳ 1776 chống lại Vương quốc Anh để lập nên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, - Cách Mạng Pháp 1789 xóa bỏ chế độ quân chủ, - Cách Mạng Nga 1917 do Cộng Sản nổi lên cướp chính quyền. - Rồi lại có những cuộc cách mạng cuối thập niên 1980, giựt sập chế độ Cộng Sản tại Liên Sô và Đông Âu. - Vào cuối năm 2010, nhân dân tại Tunisie, một quốc gia vùng Trung Đông, đã nổi lên làm cách mạng. Chỉ trong vòng 28 ngày, họ lật đổ được chính quyền độc tài của Tổng Thống Ben Ali đã cai trị Tunisie trong suốt 23 năm. Người ta gọi đây là "Cách Mạng Hoa Lài", vì Hoa Lài là biểu tượng của nước Tunisie. - Sau đó, ngọn lửa cách mạng lan nhanh sang các nước láng giềng. Trước tiên là Ai Cập. Cuộc cách mạng thành công chỉ sau 19 ngày biểu tình với 300 người chết để đổi lấy sự ra đi ngày 14-1-2011 của TT. Hosni Mubarak. Và còn những cuộc cách mạng khác đang diễn ra tại Syria, Yemen và Libya, tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn hy vọng sẽ thành công. Riêng tại Á châu, vào cuối thế kỷ 20, cũng có những cuộc cách mạng thành công, xảy ra tại: - Miền Nam Việt Nam, năm 1963, do Hoa Kỳ chủ xướng để dọn đường đem quân đội vào VN tham chiến. - Nam Dương, năm 1965, tướng Suharto làm cuộc cách mạng càn quét Đảng CS tại Nam Dương. Ông xử tử Đảng Trưởng CS Dipa Nusantara Aidit. Còn dân chúng và đặc biệt là các nông dân, tìm giết khoảng 1 triệu đảng viên Đảng CS tại nước này (5). - Thái Lan, năm 1973, lật đổ chính quyền Thanoun. - Phi Luật Tân, năm 1986, hạ bệ Tổng Thống Marcos. Nhưng không phải cuộc cách mạng nào cũng thành công. Cuộc Cách Mạng Thiên An Môn năm 1989 tại Trung quốc đã bị Đặng Tiểu Bình cán nát, sau 51 ngày biểu tình với khoảng 3,000 người chết. c) Nguyên nhân Có hai nguyên nhân thường dẫn đến cách mạng: 1/- Nguyên nhân chủ quan: Đời sống dân chúng quá nghèo khổ, cả tinh thần lẫn vật chất. Tinh thần là mất các quyền tự do làm người. Vật chất là không đủ cơm ăn, áo mặc. 2/- Nguyên nhân khách quan: Chính quyền hiện hữu bất lực, thối nát, cai trị dân bằng chính sách độc tài. Từ đó, một câu hỏi cũng được đặt ra cho người Việt Nam: Bao giờ "Cuộc Cách Mạng Hoa Lài tại Trung Đông" chuyển thành "Cuộc Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam"? B. CÁCH MẠNG BÔNG LAU TẠI VIỆT NAM Mặc dù học thuyết Karl Mark và chế độ CS đã bị dân chúng Đông Âu hạ bệ vào cuối thập niên 1980, nhưng hiện nay, VN vẫn còn là một trong 4 quốc gia trên thế giới bị CS kìm kẹp dã man, khiến người dân sống khổ cực và đang chờ ngày vùng lên làm cách mạng. a) Chính quyền độc tài Xét về yếu tố khách quan phát sinh cách mạng thì chính sách độc tài của chế độ CSVN đã quá rõ ràng, dù có nói cả năm cả tháng cũng không hết. Tôi chỉ xin trích dẫn một câu nói mới nhất của Trương Tấn Sang, Đại Biểu Quốc Hội và Ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSVN vào ngày 7-5-2011: “Trước đây chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘CHẾT’ cái đất nước này” (6). Đúng vậy, một bầy sâu mang tên Đảng CSVN đang rúc rỉa và làm tan hoang đất nước VN, với các tội trạng tầy trời: Tham nhũng, giệt chủng, chà đạp nhân quyền và nhất là bán đất, dâng biển cho Trung Cộng. Một chế độ độc tài thường đi đôi với thối nát. Vừa thối lại vừa nát. Tin tức từ VN vào chiều ngày 11-5-2011 cho biết: Chiếc nắp cống tại sân bay Nội Bài, thủ đô của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN bật tung lên, nước dơ trong cống rãnh, pha lẫn phân người phọt lên tung toé và chảy lan tràn khắp phi trường và sân bay, tỏa mùi hôi thối đến kinh hoàng (7). Các du khách ngoại quốc chứng kiến quang cảnh này đã hoảng hốt bịt mũi bỏ chạy. Sau biến cố tháng 4-1975, đã có tới 3 triệu người Việt cũng phải bịt mũi trốn chạy chế độ CS nhơ nhớp và thối tha ấy. Nhưng cái mùi hôi thối này không phải chỉ bốc lên ở phi trường Nội Bài thôi đâu. Còn một nơi khác, vừa thối tha, vừa ma quái đến rợn người và là căn nguyên cho những mùi hôi thối của cả nước VN. Đó là cái xác chết kinh tởm của Hồ Chí Minh đang bốc mùi ở Ba Đình, Hà Nội. Vậy mà Đảng CSVN hàng ngày vẫn bắt dân chúng thay phiên nhau đến phục lậy cái xác chết đó. Vậy phải làm sao có thể tẩy sạch tình trạng bẩn thỉu này tại VN? Kính thưa Quý Vị? Hãy vùng lên làm cuộc Cách Mạng Bông Lau! b) Nhân dân đói khổ Còn về yếu tố chủ quan là tình trạng nghèo đói, khốn khổ thì dân chúng VN hiện nay ra sao? Nền kinh tế VN hiện thời suy đồi, lạm phat phi mã, các tập đoàn kinh tế quốc doanh sẽ phá sản như kiểu Vinashin. Các tập đoàn lớn như than, khoáng sản, điện, ngân hàng do chính phủ và Đảng điều hành thua lỗ. Vay tiền quá nhiều, sản xuất quá kém, không tiền trả nợ, ngân sách thiếu hụt, nhập nhiều, xuất ít. Kinh tế như vậy đang đẩy cả nước vào cảnh điêu đứng! Dân chúng nhiều nơi bắt đầu đói, "đói ngược, đói xuôi, ăn rau má, phá đường cầu". Cả nước điêu đứng, trừ đảng viên đảng CS, vì đảng viên có quyền và tham nhũng, nên giầu có. Họ đã tước đoạt quyền sở hữu đất đai, nhà cửa, tài sản của dân chúng bằng nhiều thủ thuật hành chánh hay dựa vào những điều luật mập mờ! Quyền của họ là tuyệt đối. Muốn bắt ai chỉ cần gán cho tội "tuyên truyền chống Nhà Nước” chiếu điều 88 Bộ Hình Luật! Cũng lại xin trích dẫn một câu nói mới nhất của Nguyễn Tấn Dũng, hiện là Thủ Tướng CSVN, do VnExpress, một tờ báo của nhà nước VN đưa tin ngày 5-5-2011. Ông Dũng đã công khai thú nhận: "Việt Nam vẫn là nước nghèo”. Thật quá xấu hổ! Và tờ báo này đăng luôn một lời phê bình rất chí lý của độc giả: “36 năm trước Việt Nam là nước nghèo. Năm 2011, Việt Nam vẫn còn là nước nghèo. 36 năm sau, Việt Nam vẫn tiếp tục là nước nghèo” (8). Như vậy, rõ ràng VN đang đi vào ngõ cụt, không tương lai. Vậy muốn đưa VN ra khỏi đường hầm tăm tối này, chúng ta phải làm sao? Kính thưa Quý Vị? - Hãy ủng hộ cuộc Cách Mạng Bông Lau! c) CSVN chuẩn bị đàn áp cách mạng Đảng CSVN chắc chắn cũng đã biết cuộc Cách Mạng Bông Lau của dân chúng VN sắp diễn ra, bởi vì chính Mác Lê đã đưa ra nguyên tắc này: «Nơi nào có bất công đàn áp, nơi đó có cách mạng». Qua tin tức từ VN gửi đi, nhiều cuộc đàn áp dân chúng, đưa đến cảnh công an đánh chết dân đã xảy ra khắp nơi. Đã có nhiều dấu hiệu cho thấy CSVN đưa ra kế hoạch đối phó với cuộc cách mạng, chẳng hạn Nguyễn Tấn Dũng thăng cấp đặc biệt cho nhiều tướng lãnh thuộc phe nhóm của ông, đồng thời gia tăng phụ cấp và lương bổng cho cảnh sát và quân đội. Hai cơ quan này là hai chiếc phao cuối cùng Đảng CSVN phải ôm chặt để mong sống còn. Tháng 7, 2008, Nguyễn Tấn Dũng cách chức một loạt 5 tướng lãnh chỉ huy Quân Khu Thủ Đô Hà Nội và trả họ về ngồi chơi xơi nước ở Bộ Quốc Phòng. Một mặt, Đảng CSVN chuẩn bị đàn áp cách mạng, nhưng đàng khác, họ không tin biện pháp đàn áp sẽ thành công, nên các đảng viên cao cấp đang đua nhau gửi con cháu ra ngoại quốc dưới hình thức du học, đồng thời chuyển tiền ra ngoại quốc mua nhà đất hoặc cơ sở thương mại để chờ khi cách mạng nổi lên thì những cấp lãnh đạo này cũng tìm đường đào thoát. Bởi vậy, trong dân gian mới có câu chuyện vui này: Một cán bộ Cộng Sản có nhiều tuổi Đảng làm đơn xin đi định cư ở nước ngoài. Anh ta được gọi đến sở di trú và xuất cảnh. Viên thủ trưởng cơ quan này rất đỗi ngạc nhiên, bèn gọi anh ta vào phòng riêng để thẩm vấn. Viên thủ trưởng hỏi: - Một đảng viên thâm niên như đồng chí tất phải có lý do đặc biệt gì mới muốn rời bỏ quê hương Xã Hội Chủ Nghĩa tốt đẹp như nước ta chứ? Anh cán bộ trả lời: - Thưa đồng chí, vì hai lý do: Thứ nhất, đêm hôm qua, có anh bạn rỉ tai tôi rằng sắp có Cách Mạng Bông Lau xảy đến. Phen này các cán bộ CS như anh và tôi chắc chắn sẽ bị nhân dân treo cổ là cái chắc! Tôi sợ quá nên xin ra đi. Viên thủ trưởng cười cười, vỗ vai anh chàng cán bộ, rồi nói trấn an: - Tôi bảo đảm với đồng chí là chế độ này không thể nào lung lay được. Xã Hội Chủ Nghĩa sẽ tồn tại muôn năm… Anh cán bộ cướp lời: - Thưa đồng chí, đó chính là lý do thứ hai mà tôi xin ra nước ngoài để định cư đấy ạ! Tóm lại, để trả lời cho câu hỏi: Liệu VN sẽ có cuộc "Cách Mạng Bông Lau" không? Tôi xin mượn lời của ông Saad Eddin Ibrahim, Giáo sư Đại Học Harvard, gốc người Ai Cập, để trả lời như sau: "Tôi nghĩ chỉ là vấn đề thời gian. Tác động của cuộc xuống đường biểu tình đã trở thành toàn cầu. Những gì xảy tại Ai Cập đã được tác động bởi những điều xẩy ra trước đó ở Tunisie. Những việc xảy ra tại Tunisie đã được tác động bởi những gì xảy ra trước đó ở Đông Âu, Trung Âu và Châu Mỹ La tinh, cũng như ở những quốc gia như Bồ Đào Nha năm 1974, v.v... Ta đang sống trong một ngôi làng toàn cầu. Đây không là cách nói ẩn dụ mà là một thực tại... Tôi tin tưởng nhân dân Việt Nam sẽ lật đổ chế độ độc tài toàn trị này để hòa nhập vào cộng đồng dân chủ trong thế giới" (9). Vậy nếu cuộc Cách Mạng Bông Lau đã sẵn sàng thì sẽ phải diễn ra như thế nào? PHẦN 2: Diễn tiến Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam Muốn cho cuộc cách mạng thành công trọn vẹn, cuộc "Cách Mạng Bông Lau" phải được bùng nổ bởi những thành phần nào? Và rồi kết cuộc, cách mạng sẽ đưa VN đi về đâu? A. CÁCH MẠNG BÙNG NỔ Khi đặt tên cho cuộc Cách Mạng sắp diễn ra tại VN là "Cách Mạng Bông Lau" để lật đổ chế độ CS, tôi đã nhận ra nhiều điểm tương đồng giữa cuộc cách mạng này với cuộc cách mạng của Đinh Bộ Lĩnh: a) Dẹp loạn sứ quân Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp 12 sứ quân để thống nhất đất nước. Dưới chế độ CS hiện nay, mỗi tỉnh là một sứ quân. Các đảng viên cai trị mỗi địa phương tự do tung hoành, tác oai, tác quái, bất chấp lệnh của Trung Ương. Học giả Nguyễn Hiến Lê đã mô tả tình trạng này như sau: "Mỗi tỉnh là một tiểu quốc, địa phương tự do tới mức không tuân lệnh trung ương (ngay xã cũng không tuân lệnh tỉnh, huyện), lấy lẽ rằng chỉ địa phương mới hiểu tình trạng của địa phương, cấp trên không nên xen vào" (10). Chính Phan Văn Khải khi làm Thủ Tướng (từ 1997 đến 2006) đã lên tiếng than phiền về thảm trạng "Trên bảo dưới không nghe". Vào dịp đó, Lê Nhân là bạn học với Phan Văn Khải đã viết lá thư ngỏ đề ngày 5-12-2005 chê Phan Văn Khải là vô học, ngu dốt, không biết dùng tiếng Việt, "vì 'Trên bảo dưới không nghe!' dùng để chỉ việc phòng the, chuyện bất lực của đàn ông..." Lê Nhân viết: "Nhiều khi thủ tướng Phan Văn Khải cũng không phân biệt được đâu là chuyện chăn gối, đâu là chuyện quốc gia chính phủ trị dân, nên sỗ sàng đưa vấn đề con cu ra ví với dân..." (11). Đảng viên chửi xéo nhau bằng những lời lẽ cạn tầu ráo máng này đưa chúng ta đến hai kết luận: 1. Tình trạng vô kỷ luật trong Đảng CSVN: Khi cấp trên không còn có thể ra lệnh cho cấp dưới thì Đảng đó kể như sắp đến ngày tàn. 2. Đảng CSVN ra đời năm 1930. Như vậy, tính đến năm nay, 2011, là tròn 81 tuổi. Một lão già suốt đời làm việc thất đức, bán nước, hại dân, nay thì thằng trên không bảo được thằng dưới, chứng tỏ căn bệnh bất lực đã đến hồi hết thuốc chữa. Vì thế, muốn dẹp tình trạng thập nhị sứ quân vô kỷ luật này, VN cần phải làm gì bây giờ? Kính thưa Quý Vị? - Hãy ủng hộc cuộc Cách Mạng Bông Lau. Vâng, đó là con đường Vua Đinh Tiên Hoàng đã mở cho hậu thế từ cả ngàn năm trước. b) Vai trò nông thôn Đinh Bộ Lĩnh đã khởi đầu dựng nước từ làng xã, chứ không phải từ đô thị. Tôi dự đoán rằng cuộc cách mạng tương lai để lật đổ Xã Hội Chủ Nghĩa cũng sẽ được khơi mào bởi nông dân, vì năm 1945, CS đã dựa vào nông dân để cướp chính quyền, mà bây giờ nông dân bị tịch thu ruộng đất, bị đói khổ cùng cực, sống cũng như chết. Hàng triệu nông dân đã bỏ nông thôn về thành thị kiếm sống. Nhưng ở thành phố, họ không được hưởng chế độ hộ khẩu. Đã thế, đồng lương thấp, nhà thuê lại mắc, sống chật chội, thiếu vệ sinh. Cho nên, các nông dân căm thù CS. Họ không còn lý do gì để sợ chết nữa. Hiện đã có những cuộc nổi dậy tự phát, những cuộc biểu tình khiếu kiện như ở Bắc Giang, Quảng Nam, Đà Nẵng và Bình Dương... Còn các công nhân tại các xí nghiệp thì sao? Khác với cuộc nổi dậy của các công nhân thuộc Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan, công nhân tại các xí nghiệp VN đã bị CS tổ chức thành các chi bộ Đảng để khống chế, nên họ không dễ gì mà khởi xướng cách mạng được. c) Vai trò quân đội Trong bất cứ cuộc cách mạng nào, quân đội là yếu tố quyết định thắng bại của cuộc nổi dậy. Ngòi nổ là nông dân, nhưng người châm ngòi phải là quân đội. Đảng CSVN sống còn là nhờ sức mạnh của quân đội. Mặc dầu Đảng đã dành nhiều ưu đãi và kiểm soát chặt chẽ lực lượng này, nhưng dù bố trí tài tình cách mấy cũng không thể tránh được tệ hại thông thường trong quân đội là nạn kiêu binh hoặc bất mãn vì chia chác quyền lợi không đồng đều giữa hàng tướng lãnh. Đó là chưa kể đến trường hợp sẽ có những tướng tá tỉnh ngộ, biết yêu nước, thương dân, hoặc mang giấc mộng làm lịch sử. Quân đội CSVN hiện nay có phe thân Trung Cộng, có phe thân Mỹ. Những tướng tá bị thất sủng hoặc bị đày ra các vùng biên giới, một ngày nào đó, sẽ cùng đứng lên hỗ trợ nông dân làm cách mạng. Và đó là ngày tàn của Xã Hội Chủ Nghĩa. Đây là một trong những bằng chứng đã có sự rạn nứt trong hàng ngũ tướng lãnh CSVN: Ngày 6-7-2010, Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên Ủy Viên Trung Ương, nguyên Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị, đã cùng với 4 trung tướng, 12 thiếu tướng, 12 đại tá và những cán bộ lão thành như Mai Vy, nguyên Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa gửi kiến nghị cho các cơ quan cao cấp nhất của guồng máy lãnh đạo Nhà Nước XHCN/ VN để phản đối việc khai trừ Trung Tá Vũ Minh Trí - vì ông này có can đảm tố cáo tham nhũng - và đòi nghiêm khắc xử lý Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng (12). Dù sao, trong tình thế hiện tại, quân đội không phải là lực lượng khởi động cuộc Cách Mạng Bông Lau, nhưng khi nông dân nổi lên thì thái độ của quân đội sẽ quyết định thắng bại. d) Vai trò trí thức Cuộc cách mạng nào cũng phải có tổ chức, tức phải có thành phần lãnh đạo. Đó là các nhà trí thức yêu nước, biết cổ võ và phối hợp cuộc nổi dậy cho nhịp nhàng, hữu hiệu. Lenin đã nói: "Không có ý thức cách mạng thì không có cách mạng" (Sans conscience revolutionnaire, pas de révolution). Nói rõ hơn, cuộc cách mạng cần có giai cấp bình dân đứng lên, nhưng không thể thiếu giai cấp trí thức để gieo rắc tinh thần cách mạng và phác họa kế hoạch. Thành phần trí thức trong cuộc cách mạng Pháp là J.J. Rousseau, Montesquieu, tại Hoa Kỳ là Washington, Jefferson, và tại Nga là Karl Marx. Tại VN hiện nay, mỗi năm có khoảng mấy trăm ngàn sinh viên tốt nghiệp tại các trường Cao Đẳng và Đại Học. Nhờ những phương tiện kỹ thuật truyền thông tân tiến, họ biết được đời sống tự do, dân chủ tại các nước văn minh trên thế giới. Tinh thần yêu nước dâng cao, họ không dễ bị bưng bít bởi chế độ độc tài Cộng Sản. Họ đã cảm nghiệm được nỗi tủi nhục của một quốc gia bị Trung Cộng chiếm đất, chiếm biển và giết hại các ngư dân VN. Họ đã nhận ra rằng nhân quyền tại VN chỉ là một chiếc bánh vẽ khổng lồ do Đảng CSVN dàn dựng lên. Đọc những bài viết của các nhà trí thức VN trên mạng lưới, đặc biệt là mạng bauxit, và đôi khi ngay tại các báo chí lề phải, người ta nhận ra được lòng căm phẫn tột cùng của họ đối với Trung Quốc khát máu và đối với Đảng CSVN độc tài, tham nhũng và bán nước. Buổi sáng Chúa Nhật tuần trước, ngày 5-6-2011 và Chúa Nhật hôm nay, 12-6-2011, Quý Vị đã thấy gì ở đường phố Hà Nội và Saigon? - Thưa, những tiếng hô "Đả Đảo Trung Quốc" vang dội từ cửa miệng những người Việt yêu nước. Những nắm tay giơ lên nhắm thẳng vào mặt những tên Tàu hiếu chiến đang lấp ló ở Tòa Đại Sứ và Tổng Lãnh Sự Trung Quốc. Những tiếng nguyền rủa "Quân Bán Nước" chỉ ngay vào mặt những tên Cảnh Sát Công An của Đảng Cộng Sản VN. đàn áp dân chúng biểu tình và hạch hỏi: "Đây là đất nước VN, chúng tôi là người VN, tại sao các anh rào đường lấp lối. Còn Trung Cộng là quân cướp, tại sao các anh rước họ vào nhà?" Đây là những đóm lửa đang nhen nhúm ngọn đuốc Cách Mạng. Đây là những phát súng lệnh của cuộc Cách Mạng sắp sửa diễn ra tại VN. e) Phối hợp nhịp nhàng các thành phần cách mạng Căn nguyên làm bùng nổ Cách Mạng Hoa Lài ở Tunisie là câu chuyện của một thanh niên nghèo, tên là Mohammed Bouazizi đi bán trái cây kiếm sống, nhưng bị cảnh sát và chính quyền sách nhiễu. Anh cầu cứu ở cơ quan nào cũng không xong, nên đã quyết định tự thiêu. Các cuộc biểu tình của dân chúng bùng nổ, lúc đầu chỉ là một nhóm nhỏ biểu lộ lòng thương tiếc anh, nhưng dần dần mỗi ngày một lan rộng và mang màu sắc chính trị. Đó là phải lật đổ guồng máy cai trị thối nát của nhà độc tài Ben Abi. Kết cuộc, Tổng Thống Ben Abi phải trốn khỏi nước. Biến cố này không thể xảy ra nhịp nhàng như vậy, nếu không có một bộ óc tham mưu hoạch định. Tại VN, ngày 17-2-2011, cũng đã có một kỹ sư trẻ tên là Phạm Thành Sơn tự thiêu trước công sở nhà nước ở Đà Nẵng để phản đối chính quyền đã tịch thu đất đai của gia đình anh. Ngoài ra, giới trí thức và một số tướng lãnh hồi hưu quy tụ trong một bản kiến nghị 1.900 chữ ký, đòi hủy bản án của một nhà trí thức khoa bảng của chế độ là Tiến Sĩ, Luật Sư Cù Huy Hà Vũ. Rồi nữa, nông dân tại một số tỉnh đã biểu tình khiếu kiện, tụt quần ngay trước công sở và chửi rủa chính quyền thậm tệ. Cũng đã xảy ra sự việc hàng ngàn giáo dân Công Giáo đốt nến cầu nguyện, đòi đất của Giáo Hội đã bị nhà nước chiếm đoạt bất hợp pháp. Nhưng cuộc cách mạng vẫn chưa bùng nổ được là vì 3 yếu tố - nông dân, trí thức và quân đội - chưa kết hợp được với nhau để nhóm thành ngọn lửa cách mạng. Ba yếu tố trên là 3 chân của chiếc kiềng. Thiếu một chiếc hoặc không hòa nhịp với nhau thì rất khó đi đến thành công. Hãy cứ giả thuyết cuộc Cách Mạng Bông Lau xảy ra hôm nay thì có những điều gì đồng bào quốc nội cần phải lưu ý? B. CÁCH MẠNG DÂN TỘC Giả thuyết rằng cuộc Cách Mạng Bông Lau bùng nổ ngay hôm nay thì những gì sẽ xảy ra và cuộc cách mạng phải đi theo chiều hướng nào để được coi là thành công mỹ mãn? a) Trận thư hùng đẫm máu Cách Mạng là một trận thư hùng chí tử, một sống một chết. Nếu cuộc Cách Mạng Bông Lau xảy ra ngày hôm nay thì hầu như chắc phải là một cuộc cách mạng đẫm máu, vì những người cầm đầu guồng máy cai trị VN hiện giờ là những người khát máu. Họ đã tạo ra và tham dự cuộc chiến tranh VN. Chính những người này đã cưỡng chiếm miền Nam VN, với những vụ pháo kích, tấn công vào trường học, bệnh viện và chôn sống dân lành rất dã man, đúng với bản chất khát máu của con người Cộng Sản. Vì thế, cuộc phản ứng chống cách mạng chắc hẳn sẽ rất dã man. Thêm nữa, cuộc cách mạng lật đổ Đảng CSVN có nhiều khó khăn hơn là cuộc cách mạng tại Tunisie, Ai Cập hay những nước khác, vì tại các nước đó, chỉ có một bộ mặt ngổ ngáo đáng ghét của người lãnh đạo. Chỉ cần một viên đạn, một nhát búa là kết thúc sinh mạng tên độc tài đó. Nhưng Đảng CSVN được kết nạp bởi hàng ngàn hàng vạn bộ mặt ngổ ngáo, nên sẽ phải tốn đạn, tốn búa nhiều hơn. b) Trung Cộng can thiệp Ngoài ra, Đảng CSVN hiện đang bị giựt dây bởi Đảng CS Trung Quốc, tức là cộng thêm một bộ mặt khát máu khác còn ác độc hơn CSVN nhiều. Tình hình VN hiện nay rất bi đát. Khi Hồ Chí Minh nhận sứ mạng của CS quốc tế thành lập Đảng CS tại VN, đó là lúc Trung Cộng tròng chiếc thòng lọng vào cổ VN. Các tổ chức công quyền, quân đội, công an của VN đều rập khuôn Trung Cộng. Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị VN đầy dẫy những tay sai như Hoàng Văn Hoan do Trung Cộng cài vào. Cho đến nay, Trung Cộng đã thống lĩnh toàn bộ guồng máy chính trị, quân sự của VN và đặc biệt là kinh tế với nạn hàng hóa Trung Cộng lan tràn khắp nơi. Trận đòn Đặng Tiểu Bình đánh dằn mặt VN vào năm 1979 là lời cảnh báo VN hết đường thoát. Nếu Hoa Kỳ đã xâm lăng Afghanistan, Iraq và giựt dây LHQ can thiệp quân sự vào Lybia thì khi có một cuộc "Cách Mạng Bông Lau" nổi dậy và cho dù được quân đội VN ủng hộ thì Trung Cộng cũng sẽ xua quân vào VN đàn áp cách mạng không nương tay. Vì thế, ông Ngụy Kinh Sinh, một nhân vật đối kháng Trung Cộng và là Chủ Tịch Liên Minh Dân Chủ Á Châu, đã cố vấn cho người VN rằng: "Tôi nghĩ rằng những người bạn Việt Nam nên quan sát chặt chẽ tình hình ở Trung Quốc. Có hai lý do tại sao. Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam không có khả năng phát minh ra phương pháp đàn áp, cho nên họ sao chép việc đàn áp của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Khi các bạn học được cách của họ trước, thì các bạn có thể phòng ngừa trước. Thứ hai, Cộng sản Trung Quốc không muốn thấy người dân Việt Nam lật đổ chế độ độc tài cộng sản, trở thành một mô hình cho người Trung Quốc. Do đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ giúp Đảng Cộng Sản Việt Nam duy trì sự thống trị độc tài của họ. Nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc không sụp đổ, họ sẽ không cho phép người dân Việt Nam lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam. Vì vậy, sự sụp đổ của Cộng sản Trung Quốc là điều kiện tiên quyết cho sự sụp đổ của các chế độ độc tài khác ở châu Á, như Việt Nam, Bắc Hàn, Miến Điện và các nước khác" (13). Như thế, một vấn đề quan trọng khác lại được đặt ra là liệu Đảng CS Trung Quốc có thể sụp đổ không? Nếu có thì mới nên chờ. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Jeffrey Goldberg của báo The Atlantic, bà ngoại trưởng Mỹ Hilary Rodham Clinton đã quả quyết rằng: "Chế độ của Trung Quốc chắc chắn sẽ sụp đổ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây đang làm những việc vô ích như những gã hề" (14). Chắc chắn lời nhận định này sẽ đem lại nhiều hy vọng cho các nhà hoạch định cuộc cách mạng sắp tới tại VN. c) Cách mạng bằng chính xương máu mình Cuối cùng, những người lên kế hoạch cho cuộc Cách Mạng Bông Lau cần lưu ý đến tinh thần tự quyết dân tộc. Cuộc cách mạng tương lai phải là do đồng bào VN tự đứng lên và phải trả bằng máu xương và mồ hôi nước mắt của người dân Việt, chứ không phải do bàn tay lông lá của ngoại bang gầy dựng nên. Đạp đổ chế độ CS, đó là chủ đích cần và phải đạt tới, nhưng phải đạp đổ với tất cả sự khôn ngoan và cảnh giác. Mỗi quốc gia, đặc biệt là các cường quốc, không bao giờ giúp chúng ta - hoàn toàn vì quyền lợi của chúng ta - mà vì quyền lợi của riêng họ. Hãy lấy gương của Cambodia, nước láng giềng của VN làm ví dụ. Hoa Kỳ đã bỏ rơi nước này để cho Khmer Đỏ chiến thắng Phnom Penh ngày 12-4-1975. Trước đó vài ngày, Đại sứ Mỹ tại Cambodia đề nghị đưa Hoàng Thân Sirik Matak và chính phủ Lon Nol sang Hoa Kỳ tỵ nạn, nhưng Hoàng thân đã viết thư từ chối thẳng thừng với những lời đầy cay đắng: "Tôi không bao giờ mảy may tin rằng quí vị lại có ý bỏ rơi một dân tộc đã chọn lựa tự do... Tôi chỉ phạm phải một sai lầm là đã tin vào quí ngài, những người Mỹ" (15). Trở về VN, số phận cũng không hơn gì Cambodia. Hiệp Định Genève 1954 chia đôi VN do quyền lợi của 5 quốc gia: Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Cộng phối hợp. Hiệp Ước Paris 1973 bán đứng VN cho Trung Cộng, vì quyền lợi của Hoa Kỳ, như Kissinger đã thú nhận. Miền Bắc VN đã có quá nhiều cay đắng khi nhận súng đạn của Trung Cộng. Miền Nam VN cũng không thiếu oan khiên khi làm bạn với Hoa Kỳ. Với bài học quá khứ, người VN cần biết dùng AK để cản đường tiến quân của Nga và Trung Cộng và dùng M16 để ngăn cản Hoa Kỳ can thiệp vào nội bộ VN. Đừng vì quá bức xức với chính sách Hán hoá của Trung Cộng mà nhờ Mỹ tháo dây thắt họng của Trung Cộng ra, để rồi lại lầm lẫn thò cổ vào dây thòng lọng mới của Hoa Kỳ. d) Giải pháp Việt Nam Trung Lập Có thể vì đã nhìn thấy hiểm họa này mà nhiều nhà trí thức VN, điển hình là GS Thạc sĩ Vũ Quốc Thúc và GS Nguyễn Ngọc Huy, đã muốn vận động để Việt Nam được hưởng quy chế Trung Lập (16). Thực ra, có rất nhiều mô hình Trung Lập trên thế giới, vì thường dựa trên quyết định riêng của nước muốn Trung Lập. Nhưng có một mô thức Trung Lập Pháp Lý được quốc tế công nhận theo hai Quy Ước số 5 và 13 của Hội Nghị Quốc Tế La Haye, Hòa Lan, năm 1907. Hiện nay trên thế giới có 3 quốc gia theo mô thức Trung Lập Pháp Lý Vĩnh Viễn. Đó là: Thụy Sĩ, Thụy Điển và Áo quốc (17). Các quốc gia này cam kết không bao giờ được tuyên chiến với bất cứ quốc gia nào. Trong thời bình, cũng không được liên minh quân sự với quốc gia khác hoặc dùng kinh tế để giúp quốc gia khác tăng cường sức mạnh quân sự. Tuy nhiên, các quốc gia này vẫn được quyền duy trì lực lượng quân sự để giữ an ninh trật tự và bảo vệ đất nước. Cần ghi nhận rằng VN là một quốc gia nằm ngay sát một quốc gia quá to lớn và ác độc là Trung Cộng. Không bao giờ VN có khả năng để trang bị một lực lượng quốc phòng đủ sức chống chọi với Trung Cộng. Vì thế, VN nên hướng về giải pháp Trung lập với sự bảo đảm của quốc tế, để tập trung nhân lực và tài lực phát triển kinh tế, làm cho dân giàu nước mạnh. Tóm lại, cuộc Cách Mạng Bông Lau tại VN sẽ vô cùng khó khăn, các phong trào nổi dậy ở trong nước cần phải tính toán rất kỹ để làm sao tiết kiệm xương máu đồng bào và nắm chắc phần thắng, một khi ngọn lửa cách mạng bùng lên. KẾT LUẬN Cuối cùng, để tiếp lửa vào cuộc Cách Mạng Bông Lau, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia hải ngoại có thể làm được những gì? Năm 1975, khi chiếm được miền Nam, Đảng CSVN tưởng rằng chúng đã toàn thắng. Nhưng sự thực, thắng để mà thua, vì chẳng bao lâu sau, học thuyết CS bị đào thải tại Đông Âu, các ông tổ Karl Mark, Lenin, Staline đều bị hạ bệ. Đảng CSVN hiện nay hoàn toàn mất hồn, mất định hướng và đang ngửa tay xin tiền của phe mà họ gọi là "thua trận" hoặc "Mỹ ngụy". Thế mà CSVN dám bảo mình thắng. Thắng ở chỗ nào? Một tên trộm, xài luật rừng, cướp của, giết người. Đó chỉ là hắn đã hoàn thành tội ác, chứ không thể gọi là chiến thắng được. Phải chờ ngày quân cướp bị đưa ra tòa lãnh án thì mới rõ ai thua, ai thắng. CSVN đang ở vào thời điểm hoàng hôn. Thời gian càng đi thì bóng đêm càng tới. Cứ mỗi ngày qua đi là một ngày đến gần bóng tối sự chết. Trái lại, người Việt Quốc Gia lại đang ở trong thời điểm bình minh. Thời gian càng tới thì ánh mặt trời càng rạng rỡ. Mỗi một ngày qua đi là một ngày gần kề cuộc cách mạng huy hoàng. Xin đừng ai vô tình hay cố ý dập tắt ngọn lửa cách mạng này bằng thái độ bi quan hay chia rẽ. Chuyện kể rằng: Có một người đàn ông tị nạn VN, râu tóc trắng phơ, vừa sang Mỹ đoàn tụ với con cái. Suốt ngày ông tự giam mình trong phòng. Thỉnh thoảng, ông ra vườn, ngồi dưới gốc cây, thở vắn thờ dài, đôi lúc hai dòng lệ chảy dài trên má. Một đêm kia, ông mơ thấy mình dẫn đứa con gái đi tham dự buổi đốt nến cầu nguyện cho cuộc cách mạng thành công tại Quê Hương VN. Đang lúc hàng ngàn ngọn nến sáng lung linh thì chỉ có ngọn nến của con ông không sáng. Ông giục con: "Con thắp nến lên đi!" Người con trả lời: "Ba ơi, con đã đốt nến nhiều lần, nhưng mỗi lần con đốt lên thì nước mắt ba lại chảy xuống làm tắt ngọn nến của con." Lúc đó, ông giật mình tỉnh dậy và nhận ra rằng: Nước mắt của ông chỉ giúp ông nguôi ngoai phần nào niềm đau mất nước, nhưng nó không giúp ích gì cho cao trào thắp sáng cuộc Cách Mạng Bông Lau của toàn dân. Niềm mơ ước duy nhất của người dân Việt, nếu họ còn được phép mơ, là mong cho cuộc Cách Mạng Bông Lau sớm nở rộ và thành công, để giành lại Quê Hương từ bàn tay sắt máu của CS. Đây không còn phải là lúc ngồi bất động để than vắn thở dài nữa. Giờ hành động đã điểm. Tất cả những người Việt yêu nước phải thuộc lòng bài học ĐOÀN KẾT, nắm tay nhau, tham gia đi tuyến đầu trong cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền CSVN. Boris Yeltsin đã nói: "Đối với CS, không có chuyện cải sửa, mà cần phải đào thải nó." Và việc đào thải CSVN chính là cuộc "Cách Mạng Bông Lau" vậy.

 

Tiến Sĩ TRẦN AN BÀI

 

 

CHÚ THÍCH: (1) Theo "Việt Nam Sử Lược" của Trần Trọng Kim, Nhà Xuất Bản Miền Nam, 1971, trang 85) (2) http://saigonecho.com/main/doisong/phapluat/25992-luat-rung.html (3) http://saigonecho.com/main/doisong/phapluat/25761-ban-an-hai-bao-cao-su.html (4) http://saigonecho.com/main/hinhanh/deplavui/category/227-cac-lanh-tu-csvn-doi-mu-cao-su-con-dam.html (5)http://www.saigonecho.com/eng/index.php?option=com_content&view=article&id=822:the-eradication-of-communism-in-indonesia-&catid=27:documents&Itemid=85 (6) http://saigonecho.com/main/tintuc/thoisu/26183-tuyet-voi-ong-truong-tan-sang.html (7) http://saigonecho.com/main/tintuc/thoisu/26434-san-bay-noi-bai-be-ham-cau.html (8)http://www.saigonecho.com/main/tintuc/thoisu/26436-vit-nam-van-la-nuoc-ngheo.html (9) http://www.saigonecho.com/main/tintuc/thoisu/26435-giao-su-ai-cap-noi-ve-cach-mang-hoa-lai.html (10) (Hồi ký, chương 11). (11) http://www.saigonecho.com/main/lichsuvn/37-chientranhvn/26413-thu-le-nhan-gui-phan-van-khai.html (12) http://saigonecho.com/main/lichsuvn/chientranhvn/cacnhanvat/26563-38-tuong-lanh-csvn-.html (13) http://www.saigonecho.com/main/tintuc/binhluan/25991-gia-tang-dan-ap-doi-lap.html (14) http://www.theatlantic.com/international/archive/2011/05/hillary-clinton-chinese-system-is-doomed-leaders-on-a-fools-errand/238591/). (15) http://saigonecho.com/main/trangnha/monanhangngay/25886-mon-n-28-4-2011.html (16) http://www.saigonecho.com/main/doisong/tailieu/26437-quy-che-trung-lap-cho-viet-nam.html (17) Vũ Quốc Thúc "Thời Đại Của Tôi", Cuốn 2, Người Việt 2010, trang 679

 

http://tonthatphusi.centerblog.net/

 

 

Par phusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Vendredi 22 juillet 2011 5 22 /07 /Juil /2011 22:13
Tôi nhìn về hướng mũi tàu. Sa mù xám đục ngập phủ, ập xuống mặt nước như cố ngăn những lượn sóng ào ạt cuốn vào bờ. Từng loạt gió hâm hấp, cuốn theo các hạt nước bắn lên từ các ngọn sóng ngã đổ, vùn vụt lướt qua chiến hạm. Gió va vào các bộ phận lộ thiên, phát ra những âm vang dị biệt, tạo thành một hợp âm lạ lùng đầy vẻ dọa dẫm. Những vạt nước tóe lên từ bên hông tả hạm, bắn vào mặt vào mắt ran rát và cay xót. Chiến hạm lay lắc, từng khi hích mạnh vào cầu tàu, gây nên những cơn giật bất thường, ngầy ngật.
Ông hạm trưởng nghiêng người nhìn dọc theo hữu hạm, kiểm soát tình trạng sẵn sàng của nhân viên trong nhiệm sở rời cầu. Ông quay sang hạm phó nói bằng giọng điềm đạm như khuôn mặt của ông:
- Biển còn động mạnh quá!
Hạm phó nhìn ông mỉm cười. Tôi thấy những tia hy vọng lung linh từ nụ cười cầu tài đó. Trong bữa cơm trưa vài tiếng trước đây, hạm phó đã đề nghị hoãn khởi hành đi Hoàng Sa thêm một vài ngày. Ông cho rằng việc hoán chuyển quân là việc không gấp gáp, tội gì phải oằn người vì sóng gió. Tôi biết cái lý do thầm kín mà ông không thể nêu ra. Sóng gió đối với ông là chuyện bỏ đi. Đêm qua, ông khoe với chúng tôi là mới quen được với một cô nữ sinh trường Sao Mai và ước ao phải chi cơn bão không tan vội...
Giọng cà tửng quen thuộc của hạm phó:
- Hoãn thêm một ngày nữa là phải quá, thưa hạm trưởng. Một ngày rỗi rãnh, hạm trưởng sẽ làm thêm được vài bài thơ tình, hạm phó sẽ được hưởng thêm những giây phút êm đềm...
Tôi ngước nhìn hạm trưởng với hy vọng ông không đổi ý. Tôi thì một ngày trôi qua nơi bến lạ là một ngày chồng chất nhớ nhung. Nhớ người yêu thì ít, nhớ phố xá Sài Gòn thì nhiều. Lẽ ra giờ này tôi đã ngồi ở một quán kem nhìn ông đi qua bà đi lại. Lẽ ra tôi đã gặp lại người yêu...
- Phải khởi hành thôi, hạm phó. Mình đã trễ một tuần rồi. Đại đội Địa Phương Quân ngoài Hoàng Sa đang mong ngóng được về gặp mặt vợ con. Tôi chỉ mới mười ngày không gặp gia đình mà đã ủ ê, huống hồ họ đã quá hạn sáu tháng....
Ông đổi giọng rắn rỏi, dứt khoát:
-Tháo hết dây, trừ dây số ba.
Tôi vui sướng nghe anh vô tuyến lặp lại mệnh lệnh vào điện thoại nội bộ. Khi các dây đã kéo về tàu, nằm gọn vào ổ, hạm trưởng ban hành các lệnh cần thiết để tách con tàu đang bị sóng gió đẩy dính vào cầu. Đúng vào lúc sợi dây duy nhất còn lại căng bần bật, bốc khói thì mũi tàu từ từ tách khỏi cầu. Con tàu hục hặc, vùng vằng tiến lên. Càng xa cầu, con tàu càng chao đảo. Tiếng gió rít đâu đó như tiếng sáo ở cung bậc cao, hòa quyện với tiếng bầm bập từ tấm vải bố rộng lớn che kín lòng tầu cùng tiếng phần phật từ lá quốc kỳ ở chóp trụ sắt bên trên đài chỉ huy.Tôi ngẩn nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ mới tinh đang năng nổ phất phới tung bay và chợt thấy vui vui, hăng hái....
Con tàu bất ngờ chui vào một vùng mây mù xám xịt. Vô vàn mảng nhỏ xoắn xuýt rồi tan nhanh. Người tôi nóng bừng, bứt rứt. Miệng tôi nhờn nhợn, khó chịu. Mồ hôi rịn ra ở ngực và lưng. Tôi biết là tôi đang muốn mửa. Cái khả năng chịu sóng của tôi qua mấy tháng thực tập hải nghiệp ở quân trường được ghi nhận là yếu. Trong suốt thời gian đó biển ngày nào cũng động, nhưng dù động mạnh hay nhẹ, không ngày nào tôi không ói mửa. Có hôm mửa cả mật xanh mật vàng. Tôi nhớ đã nghĩ đến chuyện đào ngũ, bỏ cuộc. Giờ đây, ý nghĩ đó lại trở về. Tôi đặt ống dòm lên mắt, cố chú tâm quan sát. Phía trước mù mịt. Tôi chúc ống dòm xuống mặt nước. Mặt nước đục ngầu, giận dữ, lồng lộn sủi bọt. Hạm trưởng ra lệnh anh giám lộ kéo còi hải hành trong sương mù. Tiếng còi vang lên kéo dài, bị nuốt chửng vào không gian âm u rồi lại vang lên, kéo dài, đều đặn. Tôi cũng lắng nghe tiếng còi vọng đến từ đâu đó nhưng mọi phía vẫn chỉ là những âm thanh hỗn tạp, khó nghe...
Hạm trưởng bước lại bàn hải đồ mở quyển nhật ký hải hành. Ông đứng viết vài dòng tiêu lệnh rồi bước sang ngồi lên chiếc ghế nệm bọc da duy nhất dành riêng cho ông. Người ông đong đưa, đôi mắt đăm đăm nhìn xuyên qua khung trời mù mịt. Tôi đoán là ông đang ưu tư. Tôi nhớ một lời nói đùa khi học về hải hành trong sương mù. Nó không khác gì... hiệp sĩ mù nghe gió kiếm. Con tàu phải lắng nghe tiếng còi để tránh nhau. Khi “thấy” nhau thì coi như quá muộn.
Hạm phó nói lớn:
- Phòng radar báo cáo ba écho gần nhất.
Tôi nghe lệnh truyền đi và tiếng đáp nhận. Một lúc sau là tiếng báo cáo hướng và khoảng cách. Hạm phó loay hoay đo đạt, chấm tọa độ vị trí chiến hạm lên tấm hải đồ. Ông đề nghị hạm trưởng cho đổi đường. Được chấp thuận, hạm phó ra lệnh anh hạ sĩ quan vận chuyển đứng gần chiếc loa dẫn xuống phòng lái:
- Bên phải năm.
Sau khi anh lặp lại lệnh, có tiếng vọng từ miệng loa:
-Tay lái năm bên phải.
Mũi tàu quay dần về phía hữu. Bất chợt con tàu chao đảo dữ dội. Tôi chụp lấy thành đài, bám chặt. Hạm phó buông thõng chiếc ống dòm lủng lẳng trước ngực, phóng tới ôm chiếc la bàn điện đặt trên một trụ sắt giữa đài chỉ huy. Ông nhìn vào chiếc la bàn, giọng thật sắc:
- Lái thẳng.
Tiếng vọng:
-Lái thẳng, đường năm ba.
Hạm phó ra lệnh tăng tốc độ. Con tàu chúi mũi vào các ngọn sóng bạc đầu, hăm hở tiến lên. Nước bắn tóe vào đài chỉ huy từ mọi phía. Các bộ kaki màu nước biển lấm tấm những đốm xanh thẫm. Hạm trưởng rời khỏi ghế, bước lại bàn hải đồ nhìn vị trí được đánh dấu bằng vòng tròn có gạch chéo. Nó nằm trên con đường hải hành trù định. Hạm trưởng gật gù tỏ vẻ hài lòng. Ông hỏi hạm phó:
- Ai là sĩ quan đương phiên?
- Thưa thiếu úy Túc.
- Ai kế?
- Thưa, Trung Úy Lâm.
Ông quay sang tôi:
- Thiếu Úy Bằng đi ca với Trung Úy Hào.
Ca của Trung Úy Hào bắt đầu tám giờ tối. Không đợi tôi đáp nhận, ông quay sang hạm phó:
- Hạm phó trách nhiệm chỉ huy từ giờ phút này cho đến khi tàu qua khỏi cù lao Chàm. Thiếu Úy Bằng có thể xuống nghỉ ngơi ...
Tôi hăng hái lên tiếng:
- Thưa hạm trưởng, tôi xin ở đây cho đến khi nhận phiên.
Ông gật gù:
- Còn bốn tiếng nữa mới đến phiên. Mệt lắm đó. Tùy anh.
Ông xoay người hướng về cầu thang. Hạm phó hô nghiêm. Tất cả nhân viên đưa tay chào. Đợi hạm trưởng khuất hẳn, hạm phó cười cười với Túc:
- Anh hùng thấm mệt?
Túc tựa lưng vào thành đài, nhăn nhó:
- Đêm qua quần nhau tới sáng. Giờ gặp sóng gió thế này chắc...chết.
- Muốn hạm phó đi giúp ca này chăng?
Túc lắc đầu:
- Có sức chơi có sức chịu. Cám ơn hạm phó.
- Vậy thì tôi sẽ giao phiên khi chiến hạm qua khỏi cù lao Chàm. Bây giờ thì cứ đứng nhắm mắt...cho lại sức.
Nhưng Túc vẫn đăm đăm nhìn xuyên qua tấm kính chắn gió. Thỉnh thoảng anh loạng choạng, quơ tay lung tung để giữ thăng bằng khi con tàu nghiêng quá đà. Tôi biết là tôi chưa làm thế được. Tôi còn cần bám vào một cái gì đó mới giữ được thăng bằng. Tiếng gió rít veo véo, tiếng rào rào của các mảng nước bắn tung, tiếng đì đùng của các đợt sóng ngầm chặt vào lườn. Thỉnh thoảng chiến hạm va phải cơn sóng mạnh, cả thân tàu run rẩy theo tiếng răn rắc vang lên. Tất cả những âm thanh đó gợi tôi cái cảm giác bất an.

Suốt tháng trước, dù được đi ca chung với hạm phó, học hỏi được nhiều nhưng tôi vẫn chưa quen với những tiếng động lạ thường trên chiến hạm.
Tiếng của hạm phó lạc vào âm thanh hỗn độn:
- Thiếu úy Bằng xuống kiểm soát việc trực radar. Đừng để nhân viên thám xuất rời mắt khỏi màn ảnh. Mọi bất thường báo cáo ngay.
Tôi đáp nhận rõ rồi xiên xẹo lần ra đầu cầu thang dẫn xuống phòng lái. Cầu thang như sâu hơn thường ngày. Tôi lần dò đặt chân lên từng bậc. Hai tay bám chặt thanh sắt an toàn. Con tàu chầm chậm nghiêng hết về bên phải rồi vặn mình nghiêng hết về bên trái. Tôi phải dồn toàn lực vào hai tay để bám víu mỗi khi con tàu nghiêng hết về một phía. Sự cộng hưởng tạo một sức ly tâm cực mạnh khiến tôi có thể bị bắn văng khỏi tàu. Xuống đến chân cầu thang, tôi thận trọng bước lần dò về cửa phòng lái. Cửa là một tấm sắt dềnh dàng đóng kín khi sóng to gió lớn. Cần khóa đang ở thế thẳng đứng. Muốn mở, phải vặn cho nó nằm ngang. Trời vẫn oi bức nhưng tôi cảm thấy lành lạnh, rợn người. Với mức độ chòng chành thế này, không cẩn thận chọn đúng thời điểm, cánh cửa ngàn cân có thể bật tung vào người gây thương tích nặng. Và một khi cửa đã mở mà không bước vào kịp, nó sẽ bật vụt lại, chặt gãy tay chân.
Một tay bám vào thanh an toàn, tay kia nắm cần chốt, tôi nín thở chờ đợi. Vừa khi con tàu trở về vị trí thăng bằng, tôi xoay phần tư vòng, mở vụt cánh cửa, lách vô thật lẹ. Chân vừa rút vào thì cánh cửa ập sầm lại. Tôi gài chốt mà... hú hồn. Phòng lái lờ mờ. Tôi bước đến chiếc radar đặt gần vách trong. Anh thượng sĩ thám xuất đưa tay chào. Tôi gật đầu, thân mật:
- Các anh đều...êm cả chứ?
Anh cười:
- Cám ơn Thiếu Úy, tụi này cũng đỡ.
Tôi nhìn vào mặt kính hình vành tròn. Từ điểm trung tâm, một vệt sáng quét chầm chậm tạo nên hình ảnh hải cảng vịnh Sơn Trà. Phần sáng rực là bờ và núi. Phần nhạt hơn là biển với vài ba đốm trắng nổi bậc. Anh thám xuất cho biết các đóm sáng đó là những đối vật di động, có thể là thương thuyền. Anh báo cáo tình hình lên đài chỉ huy. Hạm phó ra lệnh theo dõi và báo cáo liên tục hướng và khoảng cách...
Ánh sáng khi lóe, khi lòe làm mắt và đầu tôi căng nhức. Tôi bước lui, tựa lưng vào vách. Qua lỗ châu mai, mũi tàu cất lên thật cao rồi gục xuống đánh sầm. Một mảng sóng lớn tràn qua mũi như muốn nhận chìm chiến hạm. Nước tốc lên, túa ào ạt vào lòng tàu và ập vào ô kính các lỗ châu mai. Tôi nghĩ thầm, may mà tàu còn ở vận tốc chậm. Nếu máy tiến ở tốc độ đường trường thì coi như là đời đi đứt.
Như để thách đố, một giọng uể oải phát từ miệng loa:
- Phòng lái, hai máy tiến bốn.
Tôi cay đắng mỉm cười. Rồi mày lại thấy mật xanh mật vàng. Rồi mày sẽ còn mửa dài dài, còn khốn khổ dài dài...Tiếng lạch cạch từ cần tốc độ. Tiếng leng leng báo hiệu máy đã tăng. Nhìn về tả hạm qua lỗ châu mai, một khoảng không gian nhỏ bé chầm chậm chuyển từ vòm trời âm u sang vùng biển xáo động và ngược lại. Con tàu liên tục vật vã, giật mình, rên rỉ...
Tôi lại thấy ngột ngạt, bụng quặn lên, nước mắt ứa tràn. Đến cơn quặn đau thứ ba, tôi phóng tới chiếc sô đặt gần cửa ra vào. Chưa kịp gục mặt xuống, miệng đã há rộng. Tôi nôn thốc hết thức ăn bữa trưa. Rồi tiếp tục các chất bầy nhầy lợn cợn chừng là thức ăn chưa kịp tiêu của ngày hôm qua và ngày trước đó. Nước mắt tôi ràn rụa. Tôi nín thở mà vẫn ngửi được mùi tanh hôi nồng nặc. Tôi không dám đứng lên, vẫn tiếp tục ôm chiếc sô chờ tới phiên mật xanh mật vàng. Trong giây phút toát mồ hôi đó, đầu óc tôi chợt hiện ra hình ảnh câu ca dao đã được một anh thủy thủ hiệu đính nhân một lần thấy tôi ói mửa: Hôm qua lên gác đài cao, trông cá cá lặn trông sao sao mờ, buồn trông thiếu úy ôm sô.... Tôi thấy vui vui và bỗng nghe người nhẹ đi. Một cảm giác dễ chịu lan nhanh. Theo kinh nghiệm, tôi hiểu là công tác...nuôi cá đã tạm dứt và từ giờ có quyền... chờ dịp khác. Tôi gắng gượng đứng lên, bám vào vách, hổn ha hổn hển. Đúng lúc đó tôi nghe văng vẳng giọng ca Thanh Thúy. Tôi tưởng tôi đang mê nên cố lắng tai...Giọng ca nỉ non, rõ ràng từng tiếng: “... thì dù xa xôi tôi vẫn là của người”... Tôi bậc cười thì thầm: “cám ơn em, cho dù có em ở đây, anh cũng chẳng... ăn được cái giải gì!”.
Nghe tiếng tôi cười, anh hạ sĩ vận chuyển quay sang:
- Phòng vô tuyến chơi điệu lắm, Thiếu Úy. Những lúc sóng to, biển động, họ mở nhạc yêu cầu nghe hết xảy!
Tôi gật đầu tán đồng nhưng không dám lên tiếng. Tôi biết, nếu há miệng, tôi sẽ không nói mà là mửa tiếp. Tôi nín hơi cố ngăn một cơn nôn. Giọng ca nức nở, ngọt ngào như ru tôi vào cõi mộng...” Nhiều khi ưu tư, tựa song cửa nhỏ, nhìn ngoài mưa tuôn sao nghe lạnh vào hồn”... Tôi thấy lạnh ở thân nhưng hồn thì tan theo tiếng hát.
- Mời Thiếu Úy Bằng lên đài chỉ huy gặp hạm phó.
Tôi nói lớn đáp nhận rồi dứt khoát bước nhanh về cánh cửa sắt. Tôi xoay cần chốt, vừa đẩy mạnh vừa kềm giữ. Cánh cửa bật tung. Tôi bước nhanh ra. Cửa tự động ập lại. Tôi xoay cần chốt khóa chặt. Gió rít từng hồi mang theo những giọt nước li ti bắn túa vào người. Tôi lại lạng quạng từng bước lên các bậc thang. Con tàu chao nghiêng, trườn tới rồi chao nghiêng, chừng như đang biểu diễn một điệu luân vũ giữa muôn ngàn hoa sóng. Chiếc mũ lưỡi trai bất ngờ rời khỏi đầu. Tôi ngoái lui. Chiếc mũ bay vụt cao, la đà rồi lại vụt cao và mất hút. Cơn ớn lạnh len dài theo xương sống. Tôi nhớ ra là đã quên cái áo mưa trong phòng lái. Tôi muốn trở lui nhưng nghĩ đến phút giây phải mở cánh cửa chết người nên đành chịu ướt, chịu lạnh bước tiếp. Hạm phó nhìn tôi cười:
- Gọi cậu lên đây xem sức cậu tới đâu! Khá lắm! Thôi, xuống nghỉ ngơi đi. Vài giờ nữa nhận phiên là....thăm thẳm chiều trôi đấy.
Mệt quá, tôi không cười nổi với lời đùa của ông và cũng lờ đi lời nói ngon lành với hạm trưởng mới đây. Tôi chào từ biệt hạm phó và Thiếu Úy Túc. Có lẽ phải mất đến mười phút tôi mới lần dò tới được chiếc giường êm ấm của tôi bên trong lòng tàu. Nhưng chỉ cần vài phút là tôi đã chìm vào giấc ngủ mê man...

Tôi chợt thức giấc vì cảm nhận một sự êm ả bất thường. Chiến hạm không còn đong đưa, lay lắt, không còn rên rỉ vì những cú đập tàn bạo của các đợt sóng ngầm. Tôi nghe máy tàu vẫn còn chạy ở vận tốc cao nhưng dường như đang hải hành trong một vùng vịnh không sóng gió. Tôi nhìn đồng hồ: 7giờ sáng. Đêm qua tôi bị đánh thức để nhận đi phiên từ tám giờ tối đến nửa khuya. Bốn tiếng chịu đựng những cơn tiện xoáy bào quả là dài đăng đẳng. Đôi lúc tôi tưởng chừng kiệt sức, gục qụy. Khi rời đài chỉ huy, biển còn động dữ dội. Không lẽ chỉ qua một giấc Nam Kha mà lại êm ru bà rù? Thì cũng có thể lắm. Giấc Nam Kha kéo dài suốt bảy tiếng, đủ để tàu vượt qua một đoạn đường dài, dứt bỏ vùng bão tố.
Bụng tôi chợt cồn cào, ran ran. Tôi nhớ ra là tôi đã bỏ bữa ăn tối qua, đã mửa liên tục. Tôi cũng nhớ ra nhiệm vụ chính của tôi trên chiến hạm là kiểm soát việc ăn uống của thủy thủ đoàn. Bây giờ là giờ điểm tâm. Tôi ngồi bật dậy, cảm nhận cơn mệt mõi rã rời... Tôi rửa mặt thật chậm, tận hưởng cơn sảng khoái từ độ mát mẻ của nước. Tôi sửa sang tề chỉnh quân phục rồi bước lên nhà bếp. Hai nhân viên hỏa đầu vụ đưa tay chào. Tôi chào đáp và hỏi:
- Trung Sĩ Tuyến đâu, anh Cát?
- Thưa Thiếu Úy, trung sĩ đang kiểm soát phòng ăn đoàn viên. Thiếu cần, tôi đi gọi?
Tôi nhìn nhà bếp gọn gàng, sạch sẽ:
- Thôi khỏi. Còn thức ăn sáng cho sĩ quan?
- Tôi dọn thêm món trứng chiên này là xong. Thiếu Úy đã bỏ cơm chiều hôm qua...
Tôi cười gượng:
- Sáng nay chắc cũng thế.
Giọng Cát vui vẻ:
- Biển đã yên. Ăn được rồi, thiếu úy.
Tôi lắc đầu:
- Vấn đề là...ăn không vô. Thức ăn chưa qua khỏi cổ là...vọt ra liền! Hy vọng bữa trưa, may ra.
- Trưa không chừng mình có vít ăn. Hoàng Sa có nhiều vít, thịt ngon hơn thịt gà.
- Vít là con gì vậy?
- Một loại rùa nhưng lớn hơn con ba ba nhiều.
Tôi cười, lắc đầu:
- Rùa rắn là không có tôi.
Tôi bước qua khung cửa vào lòng tàu. Cả đại đội Địa Phương Quân còn say sóng nằm la liệt từ mũi tới lái. Họ như ngủ say sưa, mà thật ra họ đang mê thiếp, như tôi đêm qua. Nhiệm vụ buộc tôi phải... tỉnh lại. Chỉ vài giờ nửa thôi, họ sẽ hạnh phúc lên bờ. Còn tôi, trọn đời khó thoát khỏi biển. Tôi leo vội lên đài chỉ huy đúng lúc tiếng còi đổi phiên vang lên. Tôi chào Trung Úy Lâm. Ông đưa tay, thân mật:
- Biết chú mầy thường lên sớm nên tôi đang mong đây. Lái dùm tôi cho đến khi trung úy Hào lên nhận phiên. Tôi có việc xuống sớm một tí.
Không cần biết tôi bằng lòng hay không, ông tỉnh bơ rời vị trí. Tôi tưởng ông đùa vì ông thừa biết tôi chưa đủ khả năng hải hành. Tôi mới ra trường được một tháng mà theo hạm trưởng phải ít nhất sau năm bảy chuyến công tác tôi mới được đánh giá làm trưởng phiên. Tôi chợt lo lắng, nhìn quanh xa khơi. Không bóng dáng một chiếc tàu thuyền nào. Chỉ bao la một thảm xanh lao xao, lấp lánh. Muôn ngàn tia sáng chạy dài đến tận mặt trời chưa lên cao. Gió nhẹ, mát rười rượi. Tôi hít một hơi dài, thấy an tâm và hãnh diện. Việc ủy thác của Trung Úy Lâm hẳn đã dựa vào thành quả một tháng cố gắng học hỏi tận tình của tôi.
Nhớ đến việc đầu tiên phải làm khi nhận trưởng phiên hải hành là xác định vị trí chiến hạm, tôi bước sang bàn hải đồ nhìn vào hải trình. Hàng chục vòng tròn nhỏ có gạch chéo cách đều nhau trên một đường kẻ kéo dài từ cù lao Chàm đến trung tâm quần đảo Hoàng Sa. Vòng cuối cùng với ghi chú 1100H, nằm cách không xa một nhóm đảo trông giống như là những quả trứng lớn nhỏ nằm ngổn ngang. Tôi hiểu là còn khoảng ba tiếng nữa sẽ đến điểm đổ bộ.
Tiếng Trung Úy Hào từ phía sau:
- Mình đến đâu rồi, Thiếu Úy Bằng?
Tôi quay lại đưa tay lên chào nhưng anh chỉ cười cười đưa tay ra bắt:
- Còn sức lên nhận phiên sớm là ngon quá rồi. Cứ tưởng anh hùng đã thấm mệt!
Tôi ráng nở nụ cười:
- Thưa trung úy, theo phỏng định thì còn ba tiếng nữa là đến điểm đổ quân.
- Cụ tin vào cái vị trí phỏng định là có cơ hội chẳng bao giờ thành... hạm trưởng. Trong tình trạng sóng to gió lớn, vị trí phỏng định là vị trí ...bi quan nhất. Từ chiều hôm qua chúng ta đi với hướng sóng gió chếch mũi. Chúng ta đã cho lái “trừ hao” độ dạt. Và chúng ta đã phỏng định tốc độ là mười hai gút. Thật sự giờ này chúng ta ở nơi nào trên biển, chỉ có...Trời biết. Không chừng ta đã lạc sang vùng Amphitrite Group của người dưng khác họ hoặc tệ hại hơn là đang vào vùng nước cạn North Reef với những xác tàu chìm. Nói cho cùng, gặp cái nào thì cũng thân bại danh liệt. Tốt hơn hết là bắt đầu theo dõi độ sâu.
Anh đổi giọng sắc và lớn:
- Phòng lái, cho biết chiều sâu mỗi năm phút. Radar báo cáo ngay khi phát hiện echo. Thiếu úy Bằng và các quan sát viên quan sát cẩn thận bằng ống dòm, từ hướng 9 giờ đến 3 giờ.
Hào dò nhìn lên tấm hải đồ khi nghe phòng lái báo cáo chiều sâu. Anh gật gù vói tay lấy chiếc ống dòm rồi bước sang chiếc ghế sắt gắn vào thành đài. Anh ngồi tréo chân thoải mái, chầm chậm quét ống dòm quanh hướng mũi chiến hạm. Anh hạ sĩ quan phụ tá trưởng phiên, anh giám lộ và tôi cùng đưa ống dòm lên mắt. Vẫn chỉ là mặt biển lóng lánh, thăm thẳm, mênh mông... Con tàu thênh thang phóng tới, bọt biển tỏa hình cánh chim, đổ về phía sau thành một tràng dài trắng xóa.
Cột cờ trơ trọi cuối lái gợi tôi nhớ lá cờ trên đỉnh đài chỉ huy. Tôi bước ra phía ngoài ngẩn mặt. Tôi nhìn trân trân. Lá cờ đã nhạt màu, phần đuôi rách te tua. Lá cờ vẫn bay phất phới nhưng uyển chuyển, nhẹ nhàng, trái hẳn hình ảnh vẫy vùng, mãnh liệt chiều qua. Tôi có cảm tưởng lá cờ cũng cùng mang sức sống như chúng tôi, cũng chịu đựng những vất vả gian nan, cũng tận hưởng những niềm vui thành đạt.
- Báo cáo có echo hướng một giờ, khoảng cách 28 hải lý.
Tự dưng tôi thở ra nhẹ nhỏm. Hào đứng thẳng lên, chếch ống dòm về phía tay mặt. Anh chầm chậm, thật chậm quét ống dòm qua lại. Được vài phút, anh rời ghế, chạy vội xuống phòng lái. Khi trở lên, anh cười tươi tắn:
- Hải hành phỏng định mà... chính xác gớm!
Anh nhấc điện thoại:
- Thưa hạm trưởng, tôi trung úy Hào. Trình với hạm trưởng, đã thấy đảo hướng một giờ, cách 27 hải lý bằng radar. Chưa thấy bằng ống dòm.
Anh lặng thinh nhận chỉ thị một lúc, đáp nhận rõ và gác máy. Anh nhìn la bàn, ra lệnh:
- Lái đường một-không-sáu.
Hào đưa ống dòm lên mắt. Tôi bắt chước anh. Biển vẫn thăm thẳm, chập chùng đến ngầy ngật. Dường như gió đổi chiều, đưa ngược khói tầu lên tận đài chỉ huy. Mùi khói khó ngửi nhưng lại gợi tôi thèm một điếu thuốc. Tôi đã quên nó từ lúc tàu khởi hành. Tôi mở nắp túi, gắn điếu thuốc lên môi, thong thả châm lữa. Tôi nhả ngụm khói đầu tiên rồi hít một hơi dài tưởng chừng như đang hôn người yêu. Bất ngờ tôi sặc sụa và nghe bứt rứt khó thở. Chưa hút được. Tôi nhủ thầm, dứt khoát ném điếu thuốc. Nó nương theo gió bay thật xa rồi rơi hút vào bọt biển.
Bầu trời trong sáng, xanh ngát, không một dấu vết sa mù. Gió nhè nhẹ, mát rượi. Tôi hít một hơi sảng khoái và thấy lại yêu đời yêu biển...
Hạm trưởng xuất hiện ở chân cầu thang. Tôi báo cho Hào. Anh ra dấu cho nhân viên. Tất cả chỉnh đốn lại quân phục, tư thế. Tôi hô nghiêm và đưa tay chào khi ông đặt bước lên đài chỉ huy. Ông thân mật hỏi han từng người. Tôi là người cuối cùng.
- Thiếu úy Bằng trông tỉnh táo lắm. Được lắm.
Tôi chỉ biết lí nhí cám ơn. Ông chưa yên vị trên ghế thì có tiếng báo cáo:
- Đã thấy đảo hướng mười hai giờ.
Tôi chụp ống dòm. Tôi vốn nôn nao, nôn nóng muốn biết cái... dung nhan mùa hạ của cái quần đảo đã làm tôi khốn khổ, đau đớn. Phải khó khăn lắm tôi mới trông thấy một vệt đen trên đường chân trời. Vệt đen đó dần dần rõ dạng. Nó vươn cao cùng lúc lô nhô những ngọn cây. Rồi toàn bộ cái đảo thấp lè tè. Tôi cảm thấy thất vọng. Hoàng Sa là thế đó sao? Tôi quét chiếc ống dòm thành vòng 360 độ. Tất cả vẫn chỉ là mặt biển xanh thẩm mênh mông.
Hạm trưởng ra lệnh từ chiếc ghế dành riêng cho ông:
- Trung úy Hào có thể cho bớt máy.
Hào ra lệnh, không do dự:
- Hai máy tiến ba.
Sau tiếng leng keng, cường độ tiếng máy dịu hẳn đi. Tôi cũng cảm nhận được sự giảm tốc của con tàu. Sự thất vọng của tôi cũng tiêu tan. Tôi nhìn thấy thêm hai hòn đảo nữa bằng mắt thường. Tôi không ngờ trên đời lại có những hòn đảo nhỏ và thấp đến thế. Chúng chỉ vừa đủ nổi trên mặt nước. Một trông như con rùa đang bơi bập bềnh và một như chiếc tiềm thủy đỉnh đang lặng lờ trôi. Giữa cái mênh mông của sóng nước, hai hình ảnh đó trông lạ và đẹp mắt.
Cơn mỏi mệt, ngật ngừ bỗng dưng tan biến. Người tôi chợt xao xuyến, lâng lâng. Một mùi hương lạ thoang thoảng, sảng khoái. Mùi hương đã đến với tôi lần đầu khi chiến hạm hướng mũi vào sông Lòng Tảo sau chuyến công tác đầu tiên. Mùi đất liền. Chỉ những ai đi biển lâu ngày mới nhận ra mùi hương tuyệt diệu đó...
Hạm trưởng lên tiếng nhận quyền chỉ huy. Ông ra lệnh nhận còi nhiệm sở vận chuyển và cho giảm máy. Con tàu sựng lại rồi tiến thư thả trên vùng nước trong veo, phô bày đáy biển toàn cát đá trắng. Xa xa hai bên hông là những dãy san hô ngầm long lanh ánh sáng. Chẳng bao lâu hòn đảo thấp lè tè hiện ra trước mắt thường. Tôi chỉ một đóm trắng nằm ở cuối đảo, hỏi ông trung sĩ giám lộ đứng gần:
- Có cái gì màu trắng? Anh có nhận thấy không?
- Thưa thiếu úy, đó là đài khí tượng. Chúng ta có một toán khí tượng hoạt động trên đảo. Tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển là từ đài đó.
Tôi cười vui sướng với một khám phá mới mẻ....
Vào đúng thời điểm đã định, hạm trưởng ra lệnh thả neo. Con tàu xuôi theo gió nằm song song với hòn đảo khá lớn. Hòn đảo có những lùm cây rậm rạp sau một bãi cát trắng chạy vòng. Cuối bãi cát về phía mặt là một tòa nhà màu trắng vươn cao. Đó chính là đài khí tượng. Nổi bật trên nóc tòa nhà là lá cờ vàng ba sọc đỏ đang ngạo nghễ phất phới giữa nền trời xanh. Tôi đăm đăm nhìn lá cờ. Như một thói quen, tôi chụm hai chân đứng vào thế nghiêm, đưa bàn tay lên ngang mày.
Trong tôi, những xúc động dạt dào dâng lên....

(Trích hồi ký ĐỜI THỦY THỦ, Sài Gòn 1969)
 
Vũ Thất

 

Par phusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Vendredi 22 juillet 2011 5 22 /07 /Juil /2011 11:07

 

 

Trần Bình Nam

 

         Những năm gần đây dưới sự chỉ đạo của cộng sản Hà Nội, bọn tay sai ở trong và ngoài nước lợi dụng thời đại tin học và tự do báo chí, qua các diễn đàn điện tử đã tố cáo nhân vật này nhân vật nọ, bịa đặt danh sách những người theo cộng sản tại hải ngoại , đánh phá các vị Tu sĩ, Linh mục Công giáo, Hòa thượng, Thượng tọa Phật giáo để gây chia rẽ tôn giáo, và loan tin thất thiệt để chia rẽ cộng đồng.

         Thời gian gần đây hơn, trước sự mất lòng dân càng ngày càng sâu sắc, bọn tay sai được chỉ thị tăng cường đánh phá.

         Bọn gian dùng 2 phương pháp:

1.   Thứ nhất: Tung lên diễn đàn bất cứ tin láo lếu nào dựa vào nguyên tắc  “Tăng sâm giết người” là nói láo và nói láo mãi sẽ có người tin.

2.   Thứ  hai: Thiết lập một diễn đàn điện tử với cái tên thật kêu, thật “quốc gia”, thật “chống cộng”, và đăng những bài chống cộng kịch liệt để tạo lòng tin trong cộng đồng, rồi thỉnh thoảng chen những bài đánh phá (theo lối “Tăng Sâm giết người”) đánh phá những nhân vật yêu nước thành tích trong sáng như bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Hòa Thượng Thích Quảng Đức, Thích Quảng Độ, linh mục Nguyễn Văn Lý, giáo sư Đoàn Viết Hoạt, ông Trần Quốc Bảo v.v … hoặc chửi tôn giáo này, công kích tôn gíáo kia để gây mâu thuẫn .

 

         Lẽ dĩ nhiên những phương pháp phá hoại này không lừa gạt được ai am hiểu tình hình chung và nắm bắt được các vấn đề thời sự. Nhưng trong thời đại tin học thông tin quá nhiều, nhiều người trong chúng ta không có thì giờ, lướt qua tin như “cỡi ngựa xem hoa” nên có thể bị mắc lừa chúng.

         Cá nhân tôi từng là đối tượng của bọn đánh phá này. Trốn thoát  ra khỏi Việt Nam năm 1977, tôi với một số anh em cùng tâm huyết thành lập Tổ chức Phục Hưng Việt Nam (TC/PHVN)  với Cương lĩnh đấu tranh là giải thể chế độ độc tài cộng sản và xây dựng một nước Việt Nam tự do dân chủ. Tôi làm Chủ tịch TC/PHVN  trong 9 năm (1978-1987).  Sau đó ông Trần Quốc Bảo thay tôi lãnh đạo TC/PHVN cho đến hôm nay. Tôi tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền Việt Nam bằng ngòi bút. Và những bài bình luận chính trị của tôi chuyển gởi trong Trang Nhà www.tranbinhnam.com của tôi và được hầu hết báo Việt ngữ hải ngoại đăng tải đã làm cho chính quyền Hà Nội nhức nhối.        

         Trong bối cảnh đó, dễ hiểu kẻ thù của tôi là cộng sản Hà Nội vì tôi kiên quyết tranh đấu cho một Việt Nam tự do dân chủ và nhân quyền. Kẻ thù của tôi là cộng sản Trung quốc vì tôi kiên quyết cùng với nhân dân Việt Nam trên mọi chiến tuyến đấu tranh bảo vệ đất bảo vệ biển của quê hương.

         Bọn họ tố cáo tôi (1) lén lút về thăm Việt Nam. Và mới đây trong một bài đánh phá Phật giáo, vu vơ hàm ý Hòa Thượng Thích Quảng Đức là người của cộng sản, bọn chúng loan tin tôi (2) không bị tù cải tạo, (3) được cộng sản tạo điều kiện cho đi vượt biên chỉ với ông Nguyễn Công Hoan trên một thuyền du lịch .

         Óc tưởng tượng và sự bịa đặt của bọn tay sai cộng sản đã đến mức hoang tưởng:

(1)          Rời nước ra đi năm 1977 vì không thể sống dưới chế độc tài của cộng sản, nhưng tôi không bỏ quê hương. Tôi từng về thăm Việt Nam 2 lần,  một lần năm 1999 và một lần năm 2001.  Chính quyền cộng sản Việt Nam để cho tôi về có thể nằm trong chương trình lôi kéo Việt kiều về thăm nước, có thể để theo dõi các tiếp xúc của tôi trong nước. Không khai thác được gì chính quyền Hà Nội cấm cửa (bằng văn bản) không cho tôi về Việt Nam nữa.

    Tôi đi thăm Việt Nam công khai. Trong cả hai chuyến đi, khi trở về tôi đều viết bài tường thuật các chuyến đi, báo chí Việt ngữ hải ngọai đăng tải rộng rãi và được chuyển gởi trong web www.tranbinhnam.com à Bình Luận, tài liệu số 29 tháng 6/1999  http://www.tranbinhnam.com/binhluan/Mot_Chuyen_Di.html

và tài liêu số 63 http://www.tranbinhnam.com/binhluan/Ly_Nuoc_Final.html năm 2001.

 

(2)          Về tù cải tạo, xin đọc bài viết trong www.tranbinhnam.com à Bình Luận, tài liệu số 348 http://www.tranbinhnam.com/binhluan/NguyenVanSon.htm

để biết tôi đã chia sẽ tù đày cộng sản như thế nào .

 

(3)          Về vượt biên chỉ với ông Nguyễn Công Hoan trên một thuyền du lịch xin xem hai tấm hình (34 người tị nạn chúng tôi và chiếc thuyền mỏng manh) dưới đây chụp ngày 31/3/1977 trên Biển Đông sau khi được tàu Nhật cứu.

 

clip_image002

 

clip_image003

 

         Tôi tin rằng sự đánh phá bằng phao tin thất thiệt của bọn tay sai cộng sản sẽ không thuyết phục được ai và chỉ làm lộ cái đuôi phản dân hại nước của bọn ác tâm./.

 

 

Trần Bình Nam

July 21, 2011

binhnam@sbcglobal.net

www.tranbinhnam.com

 

Par phusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Vendredi 22 juillet 2011 5 22 /07 /Juil /2011 09:22

 

 

 

(  Để tưởng nhớ hương hồn cố  H/Q  Đại úy Trần văn Chỉ , cấp chỉ huy luôn được thuộc hạ qúy mến,  đã yểu mệnh  vì bệnh hoại huyết ( ung thư máu )  trong sự nhớ thương của mọi ngươì )
  

 Khoảng đầu năm 1967, theo đúng chương trình tu bổ,  HQ 10 ,  hộ tống hạm NHẬT TẢO ( tên cũ là :  Ex.   USS  Serene…MSF 300   )    được vào đại kỳ sau chuyến tuần duyên vùng  4  vịnh Thái Lan  hòan tất.  . Đây là lần đại kỳ đầu tiên  sau  khi được lãnh ở Mỹ về .  Tất cả nhân viên chiến hạm vui mừng vì được ở bờ ít ra là 3 tháng ,  sẽ có nhiều dịp để du hí hay thăm gia đình.  Đó cũng được coi  như  một phần thưởng  để bù đắp lại những năm tháng lênh đênh trên mặt đại dương.
   Là Sĩ Quan Trọng Pháo, tôi chịu trách  nhiệm kiểm kê các loại đạn tất cả súng lớn nhỏ  và chất nổ ( depth charges chống tầu ngầm ) ,  làm bảng tổng kết ,  rồi sau đó xin xe GMC  và tạp dịch    ( (lính tân binh thuộc trại Bạch Đằng 2 )  chở đạn về kho Quân  Cụ  thuộc Bộ Binh  ở Gò Vấp  để nhờ giữ hộ.  Chung quy cũng chỉ  vì lý do an toàn  mà thôi .  Ban  Cơ Khí cũng vậy, dầu nhớt và các chất cháy đều đựơc bơm xuống xà lan để được mang đi .  Các chất nổ và cháy đều không còn ở chiến hạm nữa .
  Toán thợ nguội ( thợ sắt ) của HQCX xuống tầu,  mang theo nhiều  chai gío đá , vài đàng dây ống ny-lông , mỏ hàn xì cắt thép v.v……Họ cắt ở sân sau lái một khỏanh  độ 1mét vuông ,  chỗ gần  dàn  “ depth charge launcher  “   làm xấu cả cái mặt bằng phẳng của sân sau ,  Sau này tôi mới hiểu,  họ khoét lỗ như vậy  là để kéo  một vài động cơ ở hầm máy  lên,  đem về  xưởng sửa chữa hay tân trang . Một điều mà tôi tự hỏi  và không đươc trả lời thỏa mãn…………không biết lý do tại sao khi kỹ sư vẽ kiểu chiến hạm này ,  họ không dư phòng các lỗ thóat (  engine hatch ) để có thể chuyển các máy phát điện, động cơ phụ đem ra  khỏi tầu sửa chữa.
    Tôi đang bận rộn cùng với anh Trung Sĩ Trọng Pháo phụ tá kiểm kê đạn, một anh Vô Tuyến Viên  đi tới, đưa ra cho tôi xem một xấp công điện  đã được Hạm Trửơng ký khán duyệt .   Hơi ngạc nhiên  và  đi đến sửng sốt, đó là lệnh Thuyên Chuyển tôi qua HQ 404 ,  Hải Vận Hạm HƯƠNG GIANG  ( tên cũ là :  Ex :    USS Ocean Side    LSM  175 ) .  Giấc mơ được ở bờ 3 tháng  trong dịp tầu đại kỳ tan ra theo mây gío .   Tôi buồn rầu , lững thững đi vào bên trong,  tìm gặp lại Hạm Trửơng,lúc đó là H/Q Đại Úy Nguyễn Địch Hùng, cựu giáo sư Hàng Hải và Vật Lý của chúng tôi  tại trừong SQ/HQ Nha Trang . Ông chẳng nói gì cả ,  chỉ bảo tôi chuẩn bị thuyên chuyển qua đơn vị mới ,  khi tầu về đến Saigon
HQ 404 về bến,  ủi bãi ngay bên hông cửa ụ lớn.  Một buổi sáng, tôi chuẩn bị sac  marin  , valise dọn đến ở đơn vị mới .   Hạm Trửơng là ông  Trần văn Chỉ ,  Hạm Phó là ông Liên Phong, lúc đó là Trung Úy .  Anh này có  nick name được đặt  là :  “  Dome Antenne Radar SO 8  “ .  Đó là một loại Radar cổ lỗ sĩ, chế tạo  hồi thế chiến thứ 2,   sau  này  các chiến hạm đều được tân trang lại bằng Radar  SPR 21 tối tân hơn .  Radar SO-8 có antenne phát sóng to lớn, hình cái dome giống như cái nón sắt khổng lồ . nằm chiễm chệ cao chót vót  trên ngọn cột tầu, trông kỳ dị lạ lùng.
Anh Liên Phong cũng được các bạn qúy mến, “  coi mặt đặt tên  “ thật đúng phoóc không sai  một ly nào cả,tại vì anh phải đặt order nón tại tiệm TÍCH PHÚ ở bên cạnh BTL/HQ ,  đối diện  công trừơng Mê Linh cũ, nay là tượng ĐỨC THÁNH TRẦN ,   một cái nón casquette lọai Extra Large , ngọai size lọai thông thừơng .  Viết đến đây,  xin qúy bạn ngừng ít giây để tửơng niệm hai vị huynh trửơng đáng mến đã qúa cố.
Tại Carrée SQ, tôi định nói với H/P ,  sẽ thay tiểu lễ trắng vào trình diện H/T nhưng anh Liêm Phong, với giọng HUẾ  rặt , thân mật nói với tôi
“  _ Mày không cần thay đồ trắng, mặc vậy tao dắt vào trình diện H/T,“
Sau này,  tôi mới biết H/T  là vị SQ  mà tất cả thuộc cấp đều qúy mến. Ông lại nêu gương tốt “  Hiếu Học  “  .  Ông học hàm thụ  tại Đai Học Luật ,  mang cours về tầu  “  GẠO “ ,  và đang chuẩn bị thi Cao Học .
    Dạo đó,  quân phục HQ được phát thêm quần áo xanh mầu “  Cứt Ngựa “  giống y như Bộ Binh ,  trông xa có thể tửơng lầm  nếu không  nhìn kỹ lon cấp bậc và hàng chữ HQVN ở trên nắp túi áo sơ- mi . Quân phục tiểu lễ trắng ít khi mặc cho dù  phải trực gác lúc tầu ở bến (  tình trạng tác chiến mà ) .
  Được biết  chuyến công tác sắp tới là Côn Sơn .   Cả chiến hạm vui mừng  vì nhiều ngừơi chưa đựơc dịp đi đến ,  riêng tôi cũng vậy .  Thủy thủ đoàn chuyền miệng  ,  mách nhau  kiếm tiền còm thêm tiêu vặt  bằng cách chở ra “ rựơu đế “ .   Đó là món hàng  tuyệt đối cấm ở Côn Sơn ,  nhưng luật vẫn là luật,  vẫn có những kẽ hở  để hàng cấm có thể  lọt qua .Các thùng thiếc đụng dầu lửa , dung tích 20 lít ngụy trang để chứa  rựơu đế được chất chứa dấu hai bên hầm tấu , lối hành lang đi ra phía sau lái, rồi đựơc che đậy lại bằng một lớp bố .  H/T và ban An Ninh chiến hạm biết hết  nhưng cũng làm lơ,  vì đó là chuyện lẻ tẻ , nhỏ nhoi  không đáng kể .
     Một buổi sáng,  sau lễ thương kỳ một lúc , có đoàn xe vận tải Quân Đội  chở một Đại Đội Địa Phưong Quân tới . Đòan xe đậu hàng dài bên phía xưởng Động Cơ ,  binh sĩ súng ống  , nai nịt băng đạn đầy ngừơi  vội vàng nhẩy xuống,  có anh dắt díu vợ con đùm đề  đi theo .  Vì đây là tóan lính canh gác phòng thủ, không phải loại tác chiến,  vũ khí của họ toàn loại  súng nhỏ cá nhân mà thôi  , không có các lọai súng nặng cộng đồng.  Các tiếng ồn ào , náo nhiệt nổi lên ,  gọi nhau ơi ới trước cửa đổ bộ của chiến hạm .  Một sĩ quan vội bứơc lên tầu  và đưoc lính gác dẫn vào phòng ăn gặp H/T.  Một lúc sau, ông này trở ra,  giơ tay lên cao ngoắc ra hiệu cho lính ĐPQ  lần lượt mang  hành trang , dụng cụ xuống tầu . Các anh lính độc thân  nhìn có vẻ liếng thoắng, nhanh nhẹn, vui mừng hớn hở ,  nói năng hoạt bát .  Các anh lính gìa đem theo vợ con, tay ẵm , tay bế , tay bồng trông có vẻ bận bịu chuyện gia đình , di chuyển nặng nhọc các đồ gia dụng như bàn ghế, tủ giường , nồi niêu son chảo đã cột xếp gọn thành bó,  đựơc một vài đồng bạn phụ giúp ,  khệ nệ nặng nhọc lần lượt khuân vác hết xuống tầu  .
   Một lúc lâu sau,  từ phía cổng chánh của HQCX ,  đang đi dần tới một tóan  khỏang gần 30 người gồm đa phần là  bà  gìa ,  các bà đã trọng tuổi, một ít trẻ con 5-10 tuổi,  một vài ông lão nhà quê .  Tay họ xách gỉo, bị đầy đồ bên trong,  có người quẩy  đòn gánh  nặng nề lắc lư qua lại hai bên  , trông có vẻ mệt nhọc .  Dẫn đầu là anh lính gác An Ninh thuộc toán canh phòng ,  sau một vài câu xã giao chào hỏi tại  cửa RAMP đổ bộ,  anh này cho biết tóan này là thân nhân  các can phạm đang thọ án tại Côn Sơn .  Họ đã được cấp phép  đi thăm tù nhân  và phương tiện di chuyển của HQ .  Các gỉo , bị , quang gánh  đã được khám xét kỹ lữơng tại cổng chánh .  Một vài  ngừơi trong đám ngồi xệp xuống đất, trốn tránh cái nóng buổi sáng  bên cạnh bóng mát  của dẫy nhà  kho ,  tay cầm quạt  đập phe phẩy .
   Tôi đứng  ở trên bờ ,  trứơc mũi tầu quan sát cảnh vật ,  trong lòng tự nhiên  nổi lên một mối buồn man mác  khi nhìn đám ngừơi lớn tuổi  đi thăm thân nhân  bị tù phương xa .  Thương xót cho cảnh  chia ly tù đầy mà họ đang chịu đựng ,  không quản  ngại đường xá xa xôi , khó khăn đủ điều .
   Khỏang gần trưa ,  nước lớn lên cao .  Lệnh từ đài chỉ huy ban ra nhiệm sở vận chuyển .   Dây đỏi đựơc tháo ra và kéo về tầu .  Tôi đứng ở sân mũi trông coi ,  kiểm soát việc kéo RAMP,  đóng cửa ,  cài chốt  cho được an tòan kỹ lưỡng .
    Một chiếc tầu kéo remorqueur  và một chiếc LCM pousseur đến phụ gíúp vận chuyển  ,   lôi chiến hạm ra giữa sông .  Tầu trở đầu,  mũi hướng hạ giòng,  từ từ tăng máy ,  nhè nhẹ lứơt lên phía trưóc .Tầu chạy nứơc xuôi đang chảy ròng nên lợi thêm nhanh   hơn 1 hải lý . Gío  mát thổi lên từ bốn phía  làm   khoan khoái mọi ngừơi .  Các dây đỏi lần lượt đựơc đặt vào kho, nhiệm sở vận chuyẻn chấm dứt , tôi từ từ  di chuyển về hứơng đài chỉ huy .  Nơi đây  H/T đang ra lệnh miệng ,  chỉ huy hải hành  trong sông .
   Từ đài cao, nhìn lên bờ,  xe cộ đủ loại  di chuyển ngược xuôi. Có những tà áo xanh , đỏ  ngồi yên sau xe  HONDA,  VESPA  chạy dọc bến BẠCH - ĐẰNG ,  bộ hành lững thững di chuyển chậm rãi nhìn cảnh vật mà lòng tôi rung lên  vui nhộn .
“ Ôi  SAIGON,  hòn ngọc VIỄN ĐÔNG sao mà đẹp qúa !  !  !
Tạm gĩa từ EM  nhé !!! Hẹn  ngày tái ngộ gặp lại  sau chuyến công tác..”
   Tầu nhẹ lướt trên mặt sông.  Bên trong lòng tầu  bình phẳng, vững như bàn thạch (  ám chỉ chưa bị lắc lư con tầu đi  ) ,  chỉ nghe bên tai  tiếng ù ù  nho nhỏ  phát ra từ bên hông,  nơi có  “  ống bô khói  “ của máy chính .  Binh sĩ  tìm mọi chỗ an toạ , anh ngồi, anh nằm, anh  trèo lên hai bên thành tầu quan sát Súng ống của họ  để bừa bãi , ngổn ngang bên cạnh ba-lô quân trang  hay các thùng đạn .  Đám dân thăm nuôi tù nhân , như còn đang bỡ ngỡ  với  cảnh vật lạ trong lòng tầu  mà họ chưa bao giờ được  thấy,  e lệ nhút nhát  đứng tụm lại với nhau , chưa tìm được  chỗ tốt để ngả lưng .
   Tầu qua Thương Cảng ,  nơi đây các tầu lớn, loại xuyên Đai Dương  cột ở bến , đang nhả lên trời các cụm khói đen,  cần câu di chuyểnqua lại,  bốc dỡ  lên bến các kiện hàng palettes  hay các lưới móc câu lên các bao bị gạo, bột mì nặng trĩu .   Qua  Nhà Bè với “ ngã tẻ chia hai ,.ai về Gia Định ,  Đồng Nai  thì về “,  các bồn chứa xăng khổng lồ sơn mầu trắng bạc ,phản chiếu chói chan  làm nhức mắt dưới ánh sáng mặt trời, được bao bọc xung quanh  các hàng rào lưới và kẽm gai ,  chòi gác của lính phòng thủ  ở  các góc vươn lên cao , đề phòng VC xâm nhập phá hoại .  Một tanker ( tầu chở dầu ) to lớn , sau khi  đã bơm hết dầu  , thân  tầu nhẹ  nổi bổng lên ,  phía sau lái   để lộ ra chân vịt  khổng lồ bằng đồng  đang được quay với tốc độ thật chậm nhất ( Vì là loại tầu steam-turbine, nồi nước nóng áp lực chaudière  phải luôn đốt nóng cho dù tầu không chạy lúc ở bến  và luôn  để giữ áp lực,   nên hơi nứơc thừa ra vẩn phải dùng để hơ nóng các turbines quay trực tiếp ra chân vịt với tốc  độ rất chậm không thể nào làm di chuyển con tầu được . )
 Tầu qua Pointe de FEU ROUGE  (  trụ Đèn Đỏ ) ,   qua LES QUATRE BRAS  ,(  NGà TƯ QUỐC TẾ )  nơi đây là  giao điểm rộng lớn của sông SAIGON  và  sông LÒNG TÀO ,  rồi tiếp trực chỉ ra cửa biển VŨNG TẦU ( cap Saint JACQUES ) . Ngọn hải đăng sơn mầu trắng toát lần lần  hiện rõ và to lớn ra, uy nghi chiễm chệ ở trên đỉnh ngọn núi .  Một vài ngọn  sóng nhỏ bạc đầu đập nhẹ vào thân tầu gây những tiếng  ầm ầm  rì rào êm tai  khi tầu đi qua vùng có nhiều đáy bắt cá,  một phương tiện sinh nhai của cư dân địa phương .
   Ra khỏi cửa bể khi tầu xập tối  , ngọn hải đăng  quay đều  đèu vòng vòng  , quét lên  không trung  chùm ánh sáng vàng vọt ,  chỉ dẫn làm điểm chuẩn dẫn đường ra vào cho  các con tầu .  Gío thổi mạnh từ bốn phía ,  tấm bố lớn làm mui che boong tầu  (  sân chiến xa )  bay lên bay xuống ,  phát ra những âm thanh “  phần phật “ …..Mọi ngừơi đều cảm thấy lành lạnh . Các bà mặc trong ngừơi hai ba lớp áo,  nhưng cũng không đủ làm ấm tấm thân,   đang run lảy bảy trên  boong tầu . May mắn hôm đó biển êm  (  mer zéro ) ,  tầu chỉ hơi lắc lư nhè nhẹ  khi đi qua các đợt sóng ngang  ở cửa bể ,  ai nấy cũng cảm thấy  hơi hơi say sóng,  nhưng tất cả  rồi cũng qua đi .  Tầu bằng phẳng ,  không lắc lư trong suốt cuộc hải hành cho đến khi ủi bãi Côn Sơn .
   Như linh cảm những nỗi khổ sở,  lạnh lẽo  của đám dân thăm nuôi , H/T Chỉ  ra lệnh cho vài anh thủy thủ xuống boong , dẩn dắt  tất cả các  ông gía,  bà gìa và trẻ con xuống carrée SQ tạm nghỉ .  Carrée SQ nằm ở dưới sân chiến xa,  đường đi xuống quanh co , khúc khỉu vì có nhiều cầu thang và dốc đứng , dễ bị té nhã  nếu không quen hay sơ xuất.
   Hơi nóng  bên trong làm họ tỉnh táo,  bớt run lạnh . Lần lượt họ làm quen, chuyện trò thân mật ,  to nhỏ với nhau ,  lôi ra trong các gỉo mây  đồ ăn , chuẩn bị cho bữa cơm chiều.  Tối hôm đó,  anh lính bồi dọn cho SQ món cơm dĩa ,  ăn tại phòng ngủ vì không có chỗ ngồi .
   Sau cơm tối ,  tôi lân la ngồi gần lại đám thăm nuôi,  gợi chuyện làm quen .  Được một chị phu nữ,  tuổi khỏang 30 tươi cười chào hỏi,  đầu  búi tóc củ hành phía sau ,  trông giáng chị gái quê , gái miệt  “Đồng bằng sông CỬU LONG  “ .
Tôi liền hỏi :
“  _ Chị đi thăm nuôi ai ?  “  Chị nhà quê trả lời ngay :
“ _  Thăm chồng tôi !    “
“ _   Chồng chị bị bắt về tội gí ? “
“ _    Có tội gì đâu !   ,  “   MẤY  ỔNG  “  bắt anh ấy  chống ghe đi mua đồ  dùm  “  MẤY  ỔNG…”bị lính Quốc Gia bắt,   đem ra tòa xử vì tội làm  VC ,   tù 10 năm oan lắm ông ơi !!!”
“_    Anh ấy đi mua gì ?  “
“_   MẤY  ỔNG   “  đưa tiền và bảo đi ra tỉnh mua nhiều thứ :    dầu lửa, xăng ,  nhiều thuốc trụ sinh , thuốc bổ , sữa ,  v.v……mang về dọc đường bị lính Quốc Gia bắt ,  đồ bị tịch thâu hết,   bị nhốt trên tỉnh BẾN TRE , gỉai ra tòa  rồi bị đầy ra Côn Son.   Đây là lần đầu tiên đi thăm chồng tôi đó,  cực khổ qúa ông ơi!  !!”
 “_  Sao anh ấy không từ chối  mà lại đi làm cho VC ?
“_ Từ chối không được,   nếu từ chối   “ MẤY  ỔNG  “   nói là không hợp  tác với  “ Cách Mạng  “  ,  tội nặng lắm ,  có thể bị giết  chết !  !  !”
 “_ Anh ấy có đi lính tráng gì không ? “
“_  Lính cái gì ?   Mắt bị thong manh như muốn đui ,   xa mừơi  thứơc  không thấy gì , chỉ mờ mờ thôi .   Được miễn quân dịch từ lâu rồi ,  ở nhà làm ruộng ,  giăng câu , cầu  mong được  ít gịa lúa  sống quanh năm là mừng rồi “
 Chị  liếc nhìn hai đứa con , một gái độ 5 tuổi,  đứa trai độ 7 tuổi đang vui đùa giỡn chơi với nhau .  Bỗng nhiên  như có một nỗi nghẹn ngào nào đó tràn dâng  trong tâm hồn ,  chị mếu máo như muốn khóc , tay với tấm khăn rằn ri quấn quanh cổ ,  đưa lên dụi lau mắt.  Chị thổn thức :
                                         “_  Mười năm lâu lắm ông ơi ! ………….ổng ra tù , thằng lớn này tới tuổi đi lính ,  không biết đi lính gì đây ?  …..rồi sống chết ra  sao ? ?  ?
                                          Tôi bèn hỏi :
                                          “_  Anh ấy bị bắt  mấy lần rồi ? “
                                          “_  Đây là lần thứ hai ,  lần đầu cũng bị   “ MẤY  ỔNG   “ bắt đi mua đồ , bị bắt, nhốt ở Tỉnh  3 tháng rồi đựơc tha về nhà , ……….không làm cho  “ MẤY  ỔNG   “, không yên đâu !..........Mười năm lâu lắm ông ơi !...Như linh cảm đến tương lai đen tối sau khi thốt ra những lời trên ,  chị nấc to thành tiếng lớn , làm tôi cũng cảm động theo . Chị giơ tay lau nước mắt rồi tiếp :
                                            “_   Oan lắm ông ơi !..........Việt Cộng cái gì ?.. đưa khẩu súng không biết bắn ,……….mắt đui muốn lòi tròng ra ,   không thấy đừơng……..mà đánh giặc cái gì ?.............mà bảo là VC ?...............”
                                             Tôi nhìn chị,  đôi mắt long lanh ngấn lệ ,  mái tóc đen lánh cuốn gọn thành củ hành  ở  phía sau gáy .   Tai đeo đôi  bông cẩm thạch xanh tròn nhỏ , ở giữa có gắn  cục thủy tinh  gỉa  kim cương  đang long lánh,  chớp chớp dưới  ánh đèn mờ ảo  của dẫy đèn ống gắn trên trần .   Trông chị đẹp hẳn lên,  đôi mắt long lanh ngấn lệ tăng thêm vẻ đẹp thôn dã  của một gái quê mùa đặc thù miền đồng bằng sông CỬU LONG ,  gái miệt vừơn mà !  !  !.............
                                               Bên cạnh,  một cụ gìa râu tóc bạc phơ ,  ngồi  giơ chân kéo  đầu gối  lên gần mặt ,  tay cầm quạt  ung dung phe phẩy  như muốn xua đuổi đi cái nóng bức ,  ngộp không khí  trong phòng .  Ông lôi ra  trong túi áo bà ba bằng lụa mầu mỡ gà một gói thuốc và hộp quẹt máy định châm lửa hút .  Tôi liền nói ngay :
                                                 “_  Ông gìa ơi !.........không đựơc hút thuốc ở đây , phòng nhỏ , ngộp , chật lắm……….không đủ gío thở………”   Cụ gìa  bèn cất đi,  nhét tất cả lại vào túi .   Quay sang như để làm quen , tôi bèn hỏi :
                                                  “_  Tía  đi thăm ai ?  “
                                                  “_  Thằng cháu nội Trời đánh Thánh  đâm,   tía nó gửi lên Saigon ăn học ,…….a dua với  bạn bè du đãng , không học hành gì cả…oánh lộn oánh loạn  rồi đâm chết ngừơi…….bị đưa ra tòa vì tội ngộ sát,…..5 năm tù !.......”
                                                   “_  Nhà tía ở đâu ?......... ông gìa nhăn nhó trả lời  với cái miệng móm,  răng rụng gần hết .  Cái cằm nhọn đưa ra lưa thưa một chòm râu mỏng, môi trên nhấp nháy vài ba cọng râu cá chốt lúc ông nói :
                                                    “_  Quê tôi ở Mỏ Cầy , tía nó nhà ở Mỹ Tho,  chạy đò máy chở dừa và chuối lên Saigon,  giao cho vựa ở cầu Ông Lãnh để bán . Tía nó cũng cực khổ lắm ,  làm ăn bị khó dễ mọi bề mà đồng tiền kiếm không bao nhiêu. Tiêu xài ,   đóng thuế cho  “ MẤY ỔNG  “  , rốt cuộc chuyến đò đi 2,3 tuần lễ , về nhà tiền còn lại không đủ mua dầu  cho chuyến sau ! Cực khổ lắm ông ơi !
                                                    Liếc nhìn đồng hồ trên từơng ,  gần 8 giờ tối rồi , tôi phải lên đài chỉ huy  đi  “  quart  “  4 tiếng cho đến nửa đêm. Tại đài chỉ huy cao chót vót , gío thổi mát lạnh làm tôi tỉnh táo , tinh thần sảng khóai làm tôi dễ chịu . Nhìn sau phía lái ,  ngọn  hải đăng Vũng Tầu đều đều ,  chậm chạp quay vòng vòng phóng ra những tia chớp sáng lóe trong đêm tối.  Phía trứơc , mũi tầu  đang lần lũi tiến lên  trong bóng đen dầy đặc ,  tiếng sóng rì rào nhè nhẹ đập vào thân tầu, hai bên  bửa ra những đợt sóng trắng , lấp lánh chớp chớp ánh sáng lân tinh của nứơc biển.
                                                      Nhìn xuống khoang tầu,  binh sĩ  tổng số trên trăm ngừơi  nằm chật cứng , chen chúc nhau bên cạnh ba-lô, súng ống , đang  nằm ôm nhau  trong thùng  của 2 chiếc quân xa GMC , hay nằm bò càng dưới gầm xe . Hai chiếc quân xa đã được các dây xích và ridoirs  xiềng cứng  lại chắc chắn vào thân tầu.. Tôi thầm nghĩ : “ lính bộ binh mà ,  cảnh màn Trời chiếu Đất ,  nằm gai nếm mật đối với họ ……….chuyện nhỏ ….không đáng kể    “ .
                                                        Nhận  phiên trực hải hành này,  chiến hạm đi  “  phỏng định “ ,  xa bờ không có đối tượng định vị trí . Tốc độ 2 máy tiến 3/3 ,  10 hải- lý/gìơ .  Trên màn ảnh hùynh quang Radar  không có  écho nào hiện ra, chỉ một mầu trắng toát  để lại sau  lần cái kim quay hết một vòng trên màn ảnh . Công việc của tôi và các nhân viên giám lộ khác là đặt ống dòm  thừơng xuyên theo dõi  lộ trình con tầu và quan sát các vật lạ chung quanh .
                                                         Qúa nửa đêm  xuống ca , tôi mệt mỏi  ,  trở về phòng tìm lại giấc ngủ .  Qua phòng ăn SQ ,  thấy một vài bà còn đang xù xì  nói chuyện với nhau ,  các người khác và con nít nằm lăn quay ngổn ngang chật cứng trên sàn,  không có chỗ qua lại được . Tôi chợt nói :
                                                          “_  Các bà  chưa ngủ hả ?  “  .Một bà trọng tuổi trả lời   ngay :
                                                          “_  Ở đây gì mà kỳ qúa !   có tiếng ù ù  điếc con ráy bên tai ,  không ngủ được ,    nóng và ngộp gío qúa !  “ .  Tôi trả lời :
                                                          “_   Cố mà ngủ đi mấy bà ,  lấy lại sức , ngày mai lên bờ  còn đi thăm nuôi !  “…
                                                              Với tay tắt công tắc trên  trần,  chỉ để lại  ngọn đèn đỏ  lờ mờ sáng,  tôi rảo bước về phòng ,  hy vọng mọi ngừơi đều dễ dàng , tự ru giấc ngủ.
                                                                Trời gần sáng ,  mọi ngừơi thức dậy .  Cảnh ồn ào náo nhiệt nổi lên , mọi ngừơi đều đi về hứơng nhà vệ sinh,  tìm lối thóat tống khứ  các vật thừa trong cơ thể .  Chiến hạm có nhà vệ sinh  kiểu dã chiến ở sau lái , hở hang không có bửng che kín đáo .  Nhưng thôi ,  ai cũng cần dùng để giải quyết cả không  còn e lệ , mắc cở gì nữa ,   đối với các bà , các cô cũng vậy  .
                                                                  Mặt trời lên cao , hải đăng Vũng Tầu đã biến mất từ lúc  lâu ở cuối chân trời . Phía mũi tầu đã lờ mờ bóng dáng  Côn Đảo, dẫy núi dần dần hiện rõ theo thời gian ở chân trời .
                                                                    Còi nhiệm sở “  ủi bãi  “ vang dậy , ai nấy hân hoan vì sắp được lên bờ .  Mủi tầu va nhẹ ,  bị nâng lên khi chạm vào bãi ủi . Binh sĩ trên tầu  reo mừng la lớn .  Họ đã chuẩn bị tất cả từ lâu rồi .  Cửa đổ bộ hạ xuống ,  đập vào mắt họ  hàng dừa và quang cảnh lạ lùng của đất Côn Sơn .
                                                                    Con nhà lính có khác , chỉ ít phút thôi , tòan Đại Đội đã gọn gàng tập  hợp hàng lối trên bờ .  Còn sót lại  một vài anh lính gìa , có vợ con đùm đề , tay vác súng, tay ẵm con ,  đưa dắt vợ lên bờ . Các anh khác phụ giúp họ ,  xúm lại  khiêng rương hòm ,  chăn màn , giường chiếu gồng gánh theo nhau lên bờ một cách gọn gàng . Một anh lính trong đám  tỏ vẻ bất mãn , văng tiếng chửi đổng :
                                                                    “-……….đầy đi đảo đây ,……..không biết bao gìơ trở về bờ ?.................”
                                                                    Khoang tầu trống rỗng ,chỉ còn lại 2 chiếc quân xa  vận tải đang được tháo gở xích ở cuối lái . Lác đác, lưa thưa  vài ba đống lá chuối  gói bánh tét,  vỏ cam , vỏ chuối , hộp cá mòi không ,vài chai rỗng nước ngọt , vài vỏ chai bia  vứt bừa bãi  bỏ lại sau khi đòan quân ra đi , tặng phẩm họ để lại cho chiến hạm . Đám dân thăm nuôi như không có ai dẫn dắt , vẫn đứng im lặng , rụt rè  tại một góc.  Họ có vẻ nhút nhát lo sợ .
                                                                    Một ngừơi giám thị trong bộ đồ kha-ki vàng, đầu đội bê-rê đen tiến vào cửa Ramp , tay cầm xấp giấy,  ông giơ tay lên cao và hỏi :
                                                                    “_ Các ngừơi đi thăm nuôi  có tên hết ở đây phải không ? “  …………dứt lời,  không có ai đáp lại cả . Ông ta lại tiếp :
                                                                    “_ Tất cả mọi ngừơi theo tôi, tôi dắt lên nhà tạm trú,  ở đó nghỉ ngơi rồi lần lượt  đựơc gặp thăm nuôi . “
                                                                    Cả đám dân lũ lượt , chậm chạp theo nhau, kẻ gồng , ngừơi gánh các đồ ăn và vật dụng thăm nuôi rời tầu .  Chợt thấy  chị đàn bà nhà quê và ông gìa mà tối hôm qua tôi nói chuyện , tôi giơ tay chào hỏi :
                                                                    “_  Ít bữa nữa thăm nuôi xong ,trở về tầu ,  tôi chở về nhà ………..đùng có ở  lại đây  luôn nhé !     “  .  Chi đàn bà nhà quê  kia vui vẻ  hớn hở trả lời :
                                                                    “_  Cho tui ở đây luôn cũng đựơc ,  tui ở với chồng tui mà !...............”   Nghe câu nói đầy tình nghĩa vợ chồng làm tôi vui lây theo , hướng dõi mắt theo cho đến khi đám dân thăm nuôi khuất dần trên bờ ..
                                                                    Một công tác khác tầu phải làm là tiếp tế dầu cho đảo . Một tóan tù tạp dịch , từng ngừơi một , lăn các thùng phuy  rỗng loại 200 lít  và đặt xếp thứ tự ngay ngắn trên bãi cát , sẵn sàng chờ chiến hạm bơm đầy dầu .  Cơ khí viên  bắt ống chuyền dầu bơm đầy các thùng phuy  . Đựơc biệt phái   một chiếc xe LAND ROVER  do một tài xế lái cũng là một tù nhân  ,.chiến hạm được tòan quyền  xử dụng trong thời gian ở bến.
                                                                    Xe chở chúng tôi đi chơi nhiều nơi trên đảo. Đảo qúa bé nhỏ, chạy chưa hết một buổi sáng  mà đã đi thăm quan tất cả cảnh vật các nơi . Một phi trừơng nhỏ đựơc đặt tên là “  Cỏ ống  “,  có lẽ lấy tên một loại cỏ  có thân trống rỗng ở giữa  mọc  đầy xung quanh phi trừơng .  Chỉ có loại phi cơ nhỏ mới đáp xuống đựơc vì phi đạo rất ngắn .  Chúng tôi đựơc đi xem coi các mộ đá,  cỏ dại mọc cao không thể trông thấy mộ bia.  Đó là mộ bia các danh nhân liệt sĩ chống PHÁP, bị đi đầy và chết ở đây . Các ông Phan văn Hùm , Nguyễn an Ninh cũng đã bỏ tấm thân trở về  với cát bụi tại  chốn này. . Có vài nhà vuông, cất bằng đá, nóc bằng trông giống như  “  lô cốt  “ ,  họ gọi là  “ hầm gío   “ ,  nơi đây dùng để các tù nhân  trú ẩn trong  khi lao động  có gío mạnh hay bão thổi qua .
                                                                    Ty Canh Nông cũng có gửi chuyên viên và hột giống ra đảo , chỉ dẫn  cách thức trồng trọt cây trái .  Có nhiều dẫy đất  trồng rau xanh thẵm, nhiều ruộng mía và bắp . Có cả trại heo, gà cung cấp thực phẩm cho tù nhân ,  Gần phía bãi ủi có  “ trại lứơi “ ,  bên trong chất chứa nhiều lứơi đánh cá để tù nhân khai thác ,  đem cá về nuôi nhau .
                                                                    Một quy luật đựơc truyền lại từ thời PHÁP THUỘC ,  vẫn còn đang được triệt để áp dụng cho đến bây giờ . Tù nhân lúc đi lao động, tay có cuốc xẻng, vật dụng bén nhọn kim khí ,  khi thấy nhân viên chính phủ , cảnh sát hay giám thị  lại gần , mọi ngừơi phải bỏ tất cả dụng cụ trên xuống đất , đứng cách xa 5 mét , bỏ nón cúi đầu chào , chờ cho đến khi tất cả đi qua rồi mới tiếp tục làm việc . Đây là biện pháp phòng ngừa ,  sợ tù nhân ám hại mà thôi .  Đảo có một tiệm bán đồ kỷ niệm,  đa phần đều làm bằng đồi mồi   như quạt tay, trâm cài tóc, kẹp  dùng cho phụ nữ  hay là  ống điếu hút thuốc làm bằng rong biển không bao giờ bị cháy được khi hút.  Một vài quán cóc bán hủ tiếu, cà phê , giải khát  ẩn hiện dưới lùm dừa .
                                                                    Thời gian thăm nuôi ba bốn ngày qua nhanh chóng.  Một Đại Đội khác  hòan tất nhiệm vụ  đang đựơc thay quân trở về đất liền
            Quân nhân tóan này  liếng thoáng , vui vẻ, nghịch ngượm và có vẻ hơi ba gai, thỉnh thoảng nghe văng vẳng các tiếng chửi thề tục tiễu .  Tóan dân thăm nuôi  ủ rũ, chậm chạp , lũ lượt kéo nhau về tầu.  Quang gánh, rổ, gỉo của họ trống trơn, cạn hết không còn gì cả.  Nhiều ngừơi quay về mà mặt hãy còn  nhìn  lại bờ  như đang  luyến tiếc , nhớ thương  kẻ ở lại  .Tóan tù nhân đựoc  giám thị và lính gác chặn giữ từ xa ,  không cho lại gần tầu   .       
                                                                    Ba tiếng cói ngắn ( chữ S : ù ù ù  ) vang lên trong thinh không đang yên lặng  như xé ruột gan kẻ ở lại và người ra đi . Tầu từ từ kéo neo lái,  chạy lùi trở đầu………..rời xa bãi ủi . Ôi cảnh chia ly sao não nùng , thê lương như vậy .!  Một vài chị đàn bà  lấy khăn rằn ri che mặt, lau mắt , các người khác giơ cao tay vẫy ,  đứng chật hai bên hông tầu làm tôi nhớ lại câu thơ cổ hay ca dao :
                                                                    “ Con cò lặn lội bờ sông.!.............
                                                                       Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”
                                                                    Thương thay cho phụ nử Việt Nam thủ tiết thờ chồng trong những lúc thời gian xa vắng lâu dài .
                                                                    Trời cũng chiều lòng ngừơi, biển cũng thật  êm trong chuyến về.  Tuy nhiên chiến hạm  chật chội, kém tiện nghi mọi bề mà không ai phàn nàn oán trách, có ngừơi cảm thấy thỏa mãn , an ủi trong chuyến đi này.
                                                                    Đảo Côn Son mất dần trong tầm nhìn, núi Vũng Tầu mờ mờ hiện ra,  đất liền đã đến rồi.  Nhẹ nhàng tầu lướt nhẹ qua phao hiệu   “  LONDON MARU  “   , hải tiêu đầu tiên để vào cửa Vũng Tầu  .  Tầu lần lượt tiến vào  sông Lòng Tào, qua khu rậm rạp cây cối  của “  RỪNG SÁC  “, rồi Nhà Bè , Thương Cảng , và cuối cùng, tòa nhà sơn trắng toát của BTL/HQ hiện ra bên tay trái chiến hạm.
                               Kỳ này tầu được cặp cầu C , ngay tại góc  cua quẹo của HQCX và bến BẠCH ĐẰNG .  Một đoàn quân xa  đậu hàng một sẵn sang ở bên kia đường để đón Đ/Đ Đia Phương Quân  hoàn tất nhiệm vụ trở về .                     
       Toán dân thăm nuôi  chậm chạp , bước từng bứơc một  xuống bờ bởi một cái cầu thang  đặt kế sát bên thành tầu ,  cao hơn đầu người . 
                               Tôi không biết tâm trạng bên trong của  các ông gìa,các bà trọng tuổi , cô thôn nữ ,  gái quê miệt dzừơng thôn dã của miền đồng bằng sông CỬU LONG và các em bé trai , gái nghĩ gì , ra sao sau chuyến thăm nuôi CÔN ĐẢO này   ./.
 
                                                                                   Chí Hợi             
                                                                         ( Mùa hè Australia 2007 )
                                                                  
                                                      
             Lời cuối : Sau ngày 30/04/75,  tôi cũng bị đi học tập cải tạo , bị đi dầy tận cùng biên gíơi , nơi  có  “ muỗi thổi như sáo kêu , đỉa lội như bánh canh “  , chốn U –Minh thượng Rạch Gía , kinh làng thứ 7 .
                             Vợ con tôi đã phải chịu bao gian nan , vựơt đèo , lội sông , lội ruộng bằng mọi phương tiện tự túc , tốn kém không biêt bao nhiêu tiền của , rất nguy hiểm cho tính mạng để đựơc thăm nuôi chồng trong một thời gian giới hạn thật ngắn   . 
                             Còn những vị phu nhân của giới mà bọn VC gọi là Ngụy Quân, Ngụy Quyền bị đi đầy tận miền Thương Du Bắc Việt , nơi có cái danh xưng nghe rợn đến tận mình như Cổng Trời ,  Hòang Liên Sơn ,   Suối Máu v.v…..mỗi lần đựơc phép đi thăm chồng , cha,  con bị bọn VC cầm tù  , đã phải chịu đựng bao gian khổ , nhục nhã , mất phẩm gía con ngừơi , hành hạ bởi bọn cai tù (quản gíao) , có lẽ tôi không cần phải diễn tả lại đây .
                              Xin các qúy vị đó hãy làm một cuộc so sánh giữa hai chế độ nhân bản của VNCH và chế độ vô nhân đạo, dã man  khát máu của bọn CSVN .
                              HQ/VN đựơc vinh dự thừơng xuyên chở thân nhân của tù Cộng sản đi thăm nuôi tại Côn Đảo hay Phú Quốc  , cung cấp phương tiện chu đáo , an tòan và ân nghĩa cho mọi người thân của tù nhân.

 

Chí Hợi       (    Australia  )

 

 

Hải vận hạm HQ404 Hương Giang - 1971 (Photo by Dick Leonhardt)

 


                                                                                             

Par phusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
 
Créer un blog gratuit sur over-blog.com - Contact - C.G.U. - Rémunération en droits d'auteur - Signaler un abus - Articles les plus commentés