Mardi 19 juillet 2011 2 19 /07 /Juil /2011 20:20

 

  

 

Tiến sĩ Trần An Bài nguyên là cựu Thẩm Phán Việt Nam Cộng Hòa, cựu Giáo Sư giảng dạy ngành Phạm Tội Học tại Đại Học Vạn Hạnh, giảng sư môn Hình Sự Tố Tụng tại Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia. Ông chuyên nghiên cứu về luật pháp tại Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam Ts Trần An Bài

Bài thuyết trình cho ngày Truyền Thống Cảnh Sát QG/VNCH tại Boston, Massachusetts, 12-6-2011

     Sử sách Việt Nam có ghi rằng: Vào năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn Thập Nhị Sứ Quân, liền tuyên bố thành lập một quốc gia độc lập, mang quốc hiệu Đại Cồ Việt và tự xưng là Hoàng Đế, đóng đô ở Hoa Lư. Đinh Bộ Lĩnh tức Đinh Tiên Hoàng hồi còn nhỏ chỉ là một chú bé chăn trâu ở làng Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Chú thường bắt chúng bạn khoanh tay làm kiệu cho chú ngồi để chỉ huy đánh trận và dùng bông lau làm cờ tiến quân. Từ đó, Bông Lau và Cờ Lau đã trở nên những hình ảnh quen thuộc, phát xuất từ miền quê VN và nhắc nhở mọi người về trang sử oai hùng của Đinh Bộ Lĩnh trong công cuộc dẹp loạn để dựng xây một quốc gia độc lập và tự cường, có quân đội vững mạnh, làm tiền đề cho Lê Hoàn mười hai năm sau đánh bại quân Tống, bảo vệ độc lập cho Tổ Quốc (1). Phất ngọn Cờ Lau, Đinh Bộ Lĩnh Hoa Lư rờm rợp bóng Quân Kỳ Đại Cồ Việt sáng ngời trang sử Loạn Sứ Quân qui phục dưới cờ ! -- (Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích) Cách đây 2 năm, tôi có vinh dự được Hội Ái Hữu CSQG vùng Boston, Massachusetts mời đến để thuyết trình về đề tài "Luật Rừng của Cộng Sản Việt Nam" (CSVN) (2). Mới đây nhất, ngày 4-4-2011, CSVN đã đem Luật Rừng ra xét xử con trai một công thần của chế độ là luật sư Cù Huy Hà Vũ trong một phiên tòa bẩn thỉu, mà cả thế giới cũng như mọi thành phần dân chúng trong nước đều phỉ nhổ. Tôi đã thuyết trình về bản án này tại Oakland, California, ngày 16-4-2011, nhân dịp kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Khối 8406 và đã chỉ trích nặng nề bản án này và đặt tên nó là "Bản Án Hai Bao Cao Su Con Đầm" (3). Sau này, các họa sĩ đã trình diện toàn ban lãnh đạo Đảng CSVN đội những chiếc nón cao su "Con Đầm" trông rất là kệch cỡm và được báo chí chọn là bức hình khôi hài nhất của tháng Tư Đen năm 2011 (4). Hôm nay, tôi lại được hân hạnh lần thứ hai đến thuyết trình tại quê hương của cố Tổng Thống Kennedy, người đã bật đèn xanh cho cuộc Cách Mạng 1963 tại Việt Nam, đưa đến cái chết của anh em TT. Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất VNCH và phần nào dẫn đến sự sụp đổ toàn diện của miền Nam Việt Nam vào năm 1975. Cũng trong phần hồi tưởng ấy, hôm nay tôi xin trình bày với Quý Vị viễn tượng về một cuộc cách mạng khác, một cuộc cách mạng sẽ đem chúng ta đến ngưỡng cửa của Hy Vọng, đến sự Phục Sinh của quốc gia VN đã bị Đảng CSVN khống chế từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đến nay. Cuộc cách mạng ấy được gợi ý từ trang sử Bông Lau oai hùng của Đinh Bộ Lĩnh ngày xưa và "Cách Mạng Hoa Lài" ở Trung Đông mới đây, mà tôi đặt tên là "Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam". Bài thuyết trình được chia thành hai phần: 1. Đón chào Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam. 2. Diễn tiến Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam. PHẦN I: Đón chào Cách Mạng Bông Lau tại VN Đã có rất nhiều cuộc cách mạng xảy ra trên khắp thế giới và hiện nay, dân chúng Việt Nam đang trông đợi sớm có một cuộc cách mạng để khai tử chế độ CS độc tài và gian ác. A. CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TRÊN THẾ GIỚI a) Định nghĩa Cách mạng là thay đổi toàn diện, bỏ cũ thay mới. Về phương diện chính trị, cách mạng là bất thần lật đổ chế độ đang điều khiển guồng máy quốc gia - thông thường là bằng võ lực - để thay thế bằng một chế độ mới hoàn toàn. b) Các cuộc cách mạng Trong lịch sử thế giới, có nhiều cuộc cách mạng vĩ đại: - Cách Mạng Hoa Kỳ 1776 chống lại Vương quốc Anh để lập nên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, - Cách Mạng Pháp 1789 xóa bỏ chế độ quân chủ, - Cách Mạng Nga 1917 do Cộng Sản nổi lên cướp chính quyền. - Rồi lại có những cuộc cách mạng cuối thập niên 1980, giựt sập chế độ Cộng Sản tại Liên Sô và Đông Âu. - Vào cuối năm 2010, nhân dân tại Tunisie, một quốc gia vùng Trung Đông, đã nổi lên làm cách mạng. Chỉ trong vòng 28 ngày, họ lật đổ được chính quyền độc tài của Tổng Thống Ben Ali đã cai trị Tunisie trong suốt 23 năm. Người ta gọi đây là "Cách Mạng Hoa Lài", vì Hoa Lài là biểu tượng của nước Tunisie. - Sau đó, ngọn lửa cách mạng lan nhanh sang các nước láng giềng. Trước tiên là Ai Cập. Cuộc cách mạng thành công chỉ sau 19 ngày biểu tình với 300 người chết để đổi lấy sự ra đi ngày 14-1-2011 của TT. Hosni Mubarak. Và còn những cuộc cách mạng khác đang diễn ra tại Syria, Yemen và Libya, tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn hy vọng sẽ thành công. Riêng tại Á châu, vào cuối thế kỷ 20, cũng có những cuộc cách mạng thành công, xảy ra tại: - Miền Nam Việt Nam, năm 1963, do Hoa Kỳ chủ xướng để dọn đường đem quân đội vào VN tham chiến. - Nam Dương, năm 1965, tướng Suharto làm cuộc cách mạng càn quét Đảng CS tại Nam Dương. Ông xử tử Đảng Trưởng CS Dipa Nusantara Aidit. Còn dân chúng và đặc biệt là các nông dân, tìm giết khoảng 1 triệu đảng viên Đảng CS tại nước này (5). - Thái Lan, năm 1973, lật đổ chính quyền Thanoun. - Phi Luật Tân, năm 1986, hạ bệ Tổng Thống Marcos. Nhưng không phải cuộc cách mạng nào cũng thành công. Cuộc Cách Mạng Thiên An Môn năm 1989 tại Trung quốc đã bị Đặng Tiểu Bình cán nát, sau 51 ngày biểu tình với khoảng 3,000 người chết. c) Nguyên nhân Có hai nguyên nhân thường dẫn đến cách mạng: 1/- Nguyên nhân chủ quan: Đời sống dân chúng quá nghèo khổ, cả tinh thần lẫn vật chất. Tinh thần là mất các quyền tự do làm người. Vật chất là không đủ cơm ăn, áo mặc. 2/- Nguyên nhân khách quan: Chính quyền hiện hữu bất lực, thối nát, cai trị dân bằng chính sách độc tài. Từ đó, một câu hỏi cũng được đặt ra cho người Việt Nam: Bao giờ "Cuộc Cách Mạng Hoa Lài tại Trung Đông" chuyển thành "Cuộc Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam"? B. CÁCH MẠNG BÔNG LAU TẠI VIỆT NAM Mặc dù học thuyết Karl Mark và chế độ CS đã bị dân chúng Đông Âu hạ bệ vào cuối thập niên 1980, nhưng hiện nay, VN vẫn còn là một trong 4 quốc gia trên thế giới bị CS kìm kẹp dã man, khiến người dân sống khổ cực và đang chờ ngày vùng lên làm cách mạng. a) Chính quyền độc tài Xét về yếu tố khách quan phát sinh cách mạng thì chính sách độc tài của chế độ CSVN đã quá rõ ràng, dù có nói cả năm cả tháng cũng không hết. Tôi chỉ xin trích dẫn một câu nói mới nhất của Trương Tấn Sang, Đại Biểu Quốc Hội và Ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSVN vào ngày 7-5-2011: “Trước đây chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘CHẾT’ cái đất nước này” (6). Đúng vậy, một bầy sâu mang tên Đảng CSVN đang rúc rỉa và làm tan hoang đất nước VN, với các tội trạng tầy trời: Tham nhũng, giệt chủng, chà đạp nhân quyền và nhất là bán đất, dâng biển cho Trung Cộng. Một chế độ độc tài thường đi đôi với thối nát. Vừa thối lại vừa nát. Tin tức từ VN vào chiều ngày 11-5-2011 cho biết: Chiếc nắp cống tại sân bay Nội Bài, thủ đô của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN bật tung lên, nước dơ trong cống rãnh, pha lẫn phân người phọt lên tung toé và chảy lan tràn khắp phi trường và sân bay, tỏa mùi hôi thối đến kinh hoàng (7). Các du khách ngoại quốc chứng kiến quang cảnh này đã hoảng hốt bịt mũi bỏ chạy. Sau biến cố tháng 4-1975, đã có tới 3 triệu người Việt cũng phải bịt mũi trốn chạy chế độ CS nhơ nhớp và thối tha ấy. Nhưng cái mùi hôi thối này không phải chỉ bốc lên ở phi trường Nội Bài thôi đâu. Còn một nơi khác, vừa thối tha, vừa ma quái đến rợn người và là căn nguyên cho những mùi hôi thối của cả nước VN. Đó là cái xác chết kinh tởm của Hồ Chí Minh đang bốc mùi ở Ba Đình, Hà Nội. Vậy mà Đảng CSVN hàng ngày vẫn bắt dân chúng thay phiên nhau đến phục lậy cái xác chết đó. Vậy phải làm sao có thể tẩy sạch tình trạng bẩn thỉu này tại VN? Kính thưa Quý Vị? Hãy vùng lên làm cuộc Cách Mạng Bông Lau! b) Nhân dân đói khổ Còn về yếu tố chủ quan là tình trạng nghèo đói, khốn khổ thì dân chúng VN hiện nay ra sao? Nền kinh tế VN hiện thời suy đồi, lạm phat phi mã, các tập đoàn kinh tế quốc doanh sẽ phá sản như kiểu Vinashin. Các tập đoàn lớn như than, khoáng sản, điện, ngân hàng do chính phủ và Đảng điều hành thua lỗ. Vay tiền quá nhiều, sản xuất quá kém, không tiền trả nợ, ngân sách thiếu hụt, nhập nhiều, xuất ít. Kinh tế như vậy đang đẩy cả nước vào cảnh điêu đứng! Dân chúng nhiều nơi bắt đầu đói, "đói ngược, đói xuôi, ăn rau má, phá đường cầu". Cả nước điêu đứng, trừ đảng viên đảng CS, vì đảng viên có quyền và tham nhũng, nên giầu có. Họ đã tước đoạt quyền sở hữu đất đai, nhà cửa, tài sản của dân chúng bằng nhiều thủ thuật hành chánh hay dựa vào những điều luật mập mờ! Quyền của họ là tuyệt đối. Muốn bắt ai chỉ cần gán cho tội "tuyên truyền chống Nhà Nước” chiếu điều 88 Bộ Hình Luật! Cũng lại xin trích dẫn một câu nói mới nhất của Nguyễn Tấn Dũng, hiện là Thủ Tướng CSVN, do VnExpress, một tờ báo của nhà nước VN đưa tin ngày 5-5-2011. Ông Dũng đã công khai thú nhận: "Việt Nam vẫn là nước nghèo”. Thật quá xấu hổ! Và tờ báo này đăng luôn một lời phê bình rất chí lý của độc giả: “36 năm trước Việt Nam là nước nghèo. Năm 2011, Việt Nam vẫn còn là nước nghèo. 36 năm sau, Việt Nam vẫn tiếp tục là nước nghèo” (8). Như vậy, rõ ràng VN đang đi vào ngõ cụt, không tương lai. Vậy muốn đưa VN ra khỏi đường hầm tăm tối này, chúng ta phải làm sao? Kính thưa Quý Vị? - Hãy ủng hộ cuộc Cách Mạng Bông Lau! c) CSVN chuẩn bị đàn áp cách mạng Đảng CSVN chắc chắn cũng đã biết cuộc Cách Mạng Bông Lau của dân chúng VN sắp diễn ra, bởi vì chính Mác Lê đã đưa ra nguyên tắc này: «Nơi nào có bất công đàn áp, nơi đó có cách mạng». Qua tin tức từ VN gửi đi, nhiều cuộc đàn áp dân chúng, đưa đến cảnh công an đánh chết dân đã xảy ra khắp nơi. Đã có nhiều dấu hiệu cho thấy CSVN đưa ra kế hoạch đối phó với cuộc cách mạng, chẳng hạn Nguyễn Tấn Dũng thăng cấp đặc biệt cho nhiều tướng lãnh thuộc phe nhóm của ông, đồng thời gia tăng phụ cấp và lương bổng cho cảnh sát và quân đội. Hai cơ quan này là hai chiếc phao cuối cùng Đảng CSVN phải ôm chặt để mong sống còn. Tháng 7, 2008, Nguyễn Tấn Dũng cách chức một loạt 5 tướng lãnh chỉ huy Quân Khu Thủ Đô Hà Nội và trả họ về ngồi chơi xơi nước ở Bộ Quốc Phòng. Một mặt, Đảng CSVN chuẩn bị đàn áp cách mạng, nhưng đàng khác, họ không tin biện pháp đàn áp sẽ thành công, nên các đảng viên cao cấp đang đua nhau gửi con cháu ra ngoại quốc dưới hình thức du học, đồng thời chuyển tiền ra ngoại quốc mua nhà đất hoặc cơ sở thương mại để chờ khi cách mạng nổi lên thì những cấp lãnh đạo này cũng tìm đường đào thoát. Bởi vậy, trong dân gian mới có câu chuyện vui này: Một cán bộ Cộng Sản có nhiều tuổi Đảng làm đơn xin đi định cư ở nước ngoài. Anh ta được gọi đến sở di trú và xuất cảnh. Viên thủ trưởng cơ quan này rất đỗi ngạc nhiên, bèn gọi anh ta vào phòng riêng để thẩm vấn. Viên thủ trưởng hỏi: - Một đảng viên thâm niên như đồng chí tất phải có lý do đặc biệt gì mới muốn rời bỏ quê hương Xã Hội Chủ Nghĩa tốt đẹp như nước ta chứ? Anh cán bộ trả lời: - Thưa đồng chí, vì hai lý do: Thứ nhất, đêm hôm qua, có anh bạn rỉ tai tôi rằng sắp có Cách Mạng Bông Lau xảy đến. Phen này các cán bộ CS như anh và tôi chắc chắn sẽ bị nhân dân treo cổ là cái chắc! Tôi sợ quá nên xin ra đi. Viên thủ trưởng cười cười, vỗ vai anh chàng cán bộ, rồi nói trấn an: - Tôi bảo đảm với đồng chí là chế độ này không thể nào lung lay được. Xã Hội Chủ Nghĩa sẽ tồn tại muôn năm… Anh cán bộ cướp lời: - Thưa đồng chí, đó chính là lý do thứ hai mà tôi xin ra nước ngoài để định cư đấy ạ! Tóm lại, để trả lời cho câu hỏi: Liệu VN sẽ có cuộc "Cách Mạng Bông Lau" không? Tôi xin mượn lời của ông Saad Eddin Ibrahim, Giáo sư Đại Học Harvard, gốc người Ai Cập, để trả lời như sau: "Tôi nghĩ chỉ là vấn đề thời gian. Tác động của cuộc xuống đường biểu tình đã trở thành toàn cầu. Những gì xảy tại Ai Cập đã được tác động bởi những điều xẩy ra trước đó ở Tunisie. Những việc xảy ra tại Tunisie đã được tác động bởi những gì xảy ra trước đó ở Đông Âu, Trung Âu và Châu Mỹ La tinh, cũng như ở những quốc gia như Bồ Đào Nha năm 1974, v.v... Ta đang sống trong một ngôi làng toàn cầu. Đây không là cách nói ẩn dụ mà là một thực tại... Tôi tin tưởng nhân dân Việt Nam sẽ lật đổ chế độ độc tài toàn trị này để hòa nhập vào cộng đồng dân chủ trong thế giới" (9). Vậy nếu cuộc Cách Mạng Bông Lau đã sẵn sàng thì sẽ phải diễn ra như thế nào? PHẦN 2: Diễn tiến Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam Muốn cho cuộc cách mạng thành công trọn vẹn, cuộc "Cách Mạng Bông Lau" phải được bùng nổ bởi những thành phần nào? Và rồi kết cuộc, cách mạng sẽ đưa VN đi về đâu? A. CÁCH MẠNG BÙNG NỔ Khi đặt tên cho cuộc Cách Mạng sắp diễn ra tại VN là "Cách Mạng Bông Lau" để lật đổ chế độ CS, tôi đã nhận ra nhiều điểm tương đồng giữa cuộc cách mạng này với cuộc cách mạng của Đinh Bộ Lĩnh: a) Dẹp loạn sứ quân Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp 12 sứ quân để thống nhất đất nước. Dưới chế độ CS hiện nay, mỗi tỉnh là một sứ quân. Các đảng viên cai trị mỗi địa phương tự do tung hoành, tác oai, tác quái, bất chấp lệnh của Trung Ương. Học giả Nguyễn Hiến Lê đã mô tả tình trạng này như sau: "Mỗi tỉnh là một tiểu quốc, địa phương tự do tới mức không tuân lệnh trung ương (ngay xã cũng không tuân lệnh tỉnh, huyện), lấy lẽ rằng chỉ địa phương mới hiểu tình trạng của địa phương, cấp trên không nên xen vào" (10). Chính Phan Văn Khải khi làm Thủ Tướng (từ 1997 đến 2006) đã lên tiếng than phiền về thảm trạng "Trên bảo dưới không nghe". Vào dịp đó, Lê Nhân là bạn học với Phan Văn Khải đã viết lá thư ngỏ đề ngày 5-12-2005 chê Phan Văn Khải là vô học, ngu dốt, không biết dùng tiếng Việt, "vì 'Trên bảo dưới không nghe!' dùng để chỉ việc phòng the, chuyện bất lực của đàn ông..." Lê Nhân viết: "Nhiều khi thủ tướng Phan Văn Khải cũng không phân biệt được đâu là chuyện chăn gối, đâu là chuyện quốc gia chính phủ trị dân, nên sỗ sàng đưa vấn đề con cu ra ví với dân..." (11). Đảng viên chửi xéo nhau bằng những lời lẽ cạn tầu ráo máng này đưa chúng ta đến hai kết luận: 1. Tình trạng vô kỷ luật trong Đảng CSVN: Khi cấp trên không còn có thể ra lệnh cho cấp dưới thì Đảng đó kể như sắp đến ngày tàn. 2. Đảng CSVN ra đời năm 1930. Như vậy, tính đến năm nay, 2011, là tròn 81 tuổi. Một lão già suốt đời làm việc thất đức, bán nước, hại dân, nay thì thằng trên không bảo được thằng dưới, chứng tỏ căn bệnh bất lực đã đến hồi hết thuốc chữa. Vì thế, muốn dẹp tình trạng thập nhị sứ quân vô kỷ luật này, VN cần phải làm gì bây giờ? Kính thưa Quý Vị? - Hãy ủng hộc cuộc Cách Mạng Bông Lau. Vâng, đó là con đường Vua Đinh Tiên Hoàng đã mở cho hậu thế từ cả ngàn năm trước. b) Vai trò nông thôn Đinh Bộ Lĩnh đã khởi đầu dựng nước từ làng xã, chứ không phải từ đô thị. Tôi dự đoán rằng cuộc cách mạng tương lai để lật đổ Xã Hội Chủ Nghĩa cũng sẽ được khơi mào bởi nông dân, vì năm 1945, CS đã dựa vào nông dân để cướp chính quyền, mà bây giờ nông dân bị tịch thu ruộng đất, bị đói khổ cùng cực, sống cũng như chết. Hàng triệu nông dân đã bỏ nông thôn về thành thị kiếm sống. Nhưng ở thành phố, họ không được hưởng chế độ hộ khẩu. Đã thế, đồng lương thấp, nhà thuê lại mắc, sống chật chội, thiếu vệ sinh. Cho nên, các nông dân căm thù CS. Họ không còn lý do gì để sợ chết nữa. Hiện đã có những cuộc nổi dậy tự phát, những cuộc biểu tình khiếu kiện như ở Bắc Giang, Quảng Nam, Đà Nẵng và Bình Dương... Còn các công nhân tại các xí nghiệp thì sao? Khác với cuộc nổi dậy của các công nhân thuộc Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan, công nhân tại các xí nghiệp VN đã bị CS tổ chức thành các chi bộ Đảng để khống chế, nên họ không dễ gì mà khởi xướng cách mạng được. c) Vai trò quân đội Trong bất cứ cuộc cách mạng nào, quân đội là yếu tố quyết định thắng bại của cuộc nổi dậy. Ngòi nổ là nông dân, nhưng người châm ngòi phải là quân đội. Đảng CSVN sống còn là nhờ sức mạnh của quân đội. Mặc dầu Đảng đã dành nhiều ưu đãi và kiểm soát chặt chẽ lực lượng này, nhưng dù bố trí tài tình cách mấy cũng không thể tránh được tệ hại thông thường trong quân đội là nạn kiêu binh hoặc bất mãn vì chia chác quyền lợi không đồng đều giữa hàng tướng lãnh. Đó là chưa kể đến trường hợp sẽ có những tướng tá tỉnh ngộ, biết yêu nước, thương dân, hoặc mang giấc mộng làm lịch sử. Quân đội CSVN hiện nay có phe thân Trung Cộng, có phe thân Mỹ. Những tướng tá bị thất sủng hoặc bị đày ra các vùng biên giới, một ngày nào đó, sẽ cùng đứng lên hỗ trợ nông dân làm cách mạng. Và đó là ngày tàn của Xã Hội Chủ Nghĩa. Đây là một trong những bằng chứng đã có sự rạn nứt trong hàng ngũ tướng lãnh CSVN: Ngày 6-7-2010, Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên Ủy Viên Trung Ương, nguyên Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị, đã cùng với 4 trung tướng, 12 thiếu tướng, 12 đại tá và những cán bộ lão thành như Mai Vy, nguyên Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa gửi kiến nghị cho các cơ quan cao cấp nhất của guồng máy lãnh đạo Nhà Nước XHCN/ VN để phản đối việc khai trừ Trung Tá Vũ Minh Trí - vì ông này có can đảm tố cáo tham nhũng - và đòi nghiêm khắc xử lý Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng (12). Dù sao, trong tình thế hiện tại, quân đội không phải là lực lượng khởi động cuộc Cách Mạng Bông Lau, nhưng khi nông dân nổi lên thì thái độ của quân đội sẽ quyết định thắng bại. d) Vai trò trí thức Cuộc cách mạng nào cũng phải có tổ chức, tức phải có thành phần lãnh đạo. Đó là các nhà trí thức yêu nước, biết cổ võ và phối hợp cuộc nổi dậy cho nhịp nhàng, hữu hiệu. Lenin đã nói: "Không có ý thức cách mạng thì không có cách mạng" (Sans conscience revolutionnaire, pas de révolution). Nói rõ hơn, cuộc cách mạng cần có giai cấp bình dân đứng lên, nhưng không thể thiếu giai cấp trí thức để gieo rắc tinh thần cách mạng và phác họa kế hoạch. Thành phần trí thức trong cuộc cách mạng Pháp là J.J. Rousseau, Montesquieu, tại Hoa Kỳ là Washington, Jefferson, và tại Nga là Karl Marx. Tại VN hiện nay, mỗi năm có khoảng mấy trăm ngàn sinh viên tốt nghiệp tại các trường Cao Đẳng và Đại Học. Nhờ những phương tiện kỹ thuật truyền thông tân tiến, họ biết được đời sống tự do, dân chủ tại các nước văn minh trên thế giới. Tinh thần yêu nước dâng cao, họ không dễ bị bưng bít bởi chế độ độc tài Cộng Sản. Họ đã cảm nghiệm được nỗi tủi nhục của một quốc gia bị Trung Cộng chiếm đất, chiếm biển và giết hại các ngư dân VN. Họ đã nhận ra rằng nhân quyền tại VN chỉ là một chiếc bánh vẽ khổng lồ do Đảng CSVN dàn dựng lên. Đọc những bài viết của các nhà trí thức VN trên mạng lưới, đặc biệt là mạng bauxit, và đôi khi ngay tại các báo chí lề phải, người ta nhận ra được lòng căm phẫn tột cùng của họ đối với Trung Quốc khát máu và đối với Đảng CSVN độc tài, tham nhũng và bán nước. Buổi sáng Chúa Nhật tuần trước, ngày 5-6-2011 và Chúa Nhật hôm nay, 12-6-2011, Quý Vị đã thấy gì ở đường phố Hà Nội và Saigon? - Thưa, những tiếng hô "Đả Đảo Trung Quốc" vang dội từ cửa miệng những người Việt yêu nước. Những nắm tay giơ lên nhắm thẳng vào mặt những tên Tàu hiếu chiến đang lấp ló ở Tòa Đại Sứ và Tổng Lãnh Sự Trung Quốc. Những tiếng nguyền rủa "Quân Bán Nước" chỉ ngay vào mặt những tên Cảnh Sát Công An của Đảng Cộng Sản VN. đàn áp dân chúng biểu tình và hạch hỏi: "Đây là đất nước VN, chúng tôi là người VN, tại sao các anh rào đường lấp lối. Còn Trung Cộng là quân cướp, tại sao các anh rước họ vào nhà?" Đây là những đóm lửa đang nhen nhúm ngọn đuốc Cách Mạng. Đây là những phát súng lệnh của cuộc Cách Mạng sắp sửa diễn ra tại VN. e) Phối hợp nhịp nhàng các thành phần cách mạng Căn nguyên làm bùng nổ Cách Mạng Hoa Lài ở Tunisie là câu chuyện của một thanh niên nghèo, tên là Mohammed Bouazizi đi bán trái cây kiếm sống, nhưng bị cảnh sát và chính quyền sách nhiễu. Anh cầu cứu ở cơ quan nào cũng không xong, nên đã quyết định tự thiêu. Các cuộc biểu tình của dân chúng bùng nổ, lúc đầu chỉ là một nhóm nhỏ biểu lộ lòng thương tiếc anh, nhưng dần dần mỗi ngày một lan rộng và mang màu sắc chính trị. Đó là phải lật đổ guồng máy cai trị thối nát của nhà độc tài Ben Abi. Kết cuộc, Tổng Thống Ben Abi phải trốn khỏi nước. Biến cố này không thể xảy ra nhịp nhàng như vậy, nếu không có một bộ óc tham mưu hoạch định. Tại VN, ngày 17-2-2011, cũng đã có một kỹ sư trẻ tên là Phạm Thành Sơn tự thiêu trước công sở nhà nước ở Đà Nẵng để phản đối chính quyền đã tịch thu đất đai của gia đình anh. Ngoài ra, giới trí thức và một số tướng lãnh hồi hưu quy tụ trong một bản kiến nghị 1.900 chữ ký, đòi hủy bản án của một nhà trí thức khoa bảng của chế độ là Tiến Sĩ, Luật Sư Cù Huy Hà Vũ. Rồi nữa, nông dân tại một số tỉnh đã biểu tình khiếu kiện, tụt quần ngay trước công sở và chửi rủa chính quyền thậm tệ. Cũng đã xảy ra sự việc hàng ngàn giáo dân Công Giáo đốt nến cầu nguyện, đòi đất của Giáo Hội đã bị nhà nước chiếm đoạt bất hợp pháp. Nhưng cuộc cách mạng vẫn chưa bùng nổ được là vì 3 yếu tố - nông dân, trí thức và quân đội - chưa kết hợp được với nhau để nhóm thành ngọn lửa cách mạng. Ba yếu tố trên là 3 chân của chiếc kiềng. Thiếu một chiếc hoặc không hòa nhịp với nhau thì rất khó đi đến thành công. Hãy cứ giả thuyết cuộc Cách Mạng Bông Lau xảy ra hôm nay thì có những điều gì đồng bào quốc nội cần phải lưu ý? B. CÁCH MẠNG DÂN TỘC Giả thuyết rằng cuộc Cách Mạng Bông Lau bùng nổ ngay hôm nay thì những gì sẽ xảy ra và cuộc cách mạng phải đi theo chiều hướng nào để được coi là thành công mỹ mãn? a) Trận thư hùng đẫm máu Cách Mạng là một trận thư hùng chí tử, một sống một chết. Nếu cuộc Cách Mạng Bông Lau xảy ra ngày hôm nay thì hầu như chắc phải là một cuộc cách mạng đẫm máu, vì những người cầm đầu guồng máy cai trị VN hiện giờ là những người khát máu. Họ đã tạo ra và tham dự cuộc chiến tranh VN. Chính những người này đã cưỡng chiếm miền Nam VN, với những vụ pháo kích, tấn công vào trường học, bệnh viện và chôn sống dân lành rất dã man, đúng với bản chất khát máu của con người Cộng Sản. Vì thế, cuộc phản ứng chống cách mạng chắc hẳn sẽ rất dã man. Thêm nữa, cuộc cách mạng lật đổ Đảng CSVN có nhiều khó khăn hơn là cuộc cách mạng tại Tunisie, Ai Cập hay những nước khác, vì tại các nước đó, chỉ có một bộ mặt ngổ ngáo đáng ghét của người lãnh đạo. Chỉ cần một viên đạn, một nhát búa là kết thúc sinh mạng tên độc tài đó. Nhưng Đảng CSVN được kết nạp bởi hàng ngàn hàng vạn bộ mặt ngổ ngáo, nên sẽ phải tốn đạn, tốn búa nhiều hơn. b) Trung Cộng can thiệp Ngoài ra, Đảng CSVN hiện đang bị giựt dây bởi Đảng CS Trung Quốc, tức là cộng thêm một bộ mặt khát máu khác còn ác độc hơn CSVN nhiều. Tình hình VN hiện nay rất bi đát. Khi Hồ Chí Minh nhận sứ mạng của CS quốc tế thành lập Đảng CS tại VN, đó là lúc Trung Cộng tròng chiếc thòng lọng vào cổ VN. Các tổ chức công quyền, quân đội, công an của VN đều rập khuôn Trung Cộng. Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị VN đầy dẫy những tay sai như Hoàng Văn Hoan do Trung Cộng cài vào. Cho đến nay, Trung Cộng đã thống lĩnh toàn bộ guồng máy chính trị, quân sự của VN và đặc biệt là kinh tế với nạn hàng hóa Trung Cộng lan tràn khắp nơi. Trận đòn Đặng Tiểu Bình đánh dằn mặt VN vào năm 1979 là lời cảnh báo VN hết đường thoát. Nếu Hoa Kỳ đã xâm lăng Afghanistan, Iraq và giựt dây LHQ can thiệp quân sự vào Lybia thì khi có một cuộc "Cách Mạng Bông Lau" nổi dậy và cho dù được quân đội VN ủng hộ thì Trung Cộng cũng sẽ xua quân vào VN đàn áp cách mạng không nương tay. Vì thế, ông Ngụy Kinh Sinh, một nhân vật đối kháng Trung Cộng và là Chủ Tịch Liên Minh Dân Chủ Á Châu, đã cố vấn cho người VN rằng: "Tôi nghĩ rằng những người bạn Việt Nam nên quan sát chặt chẽ tình hình ở Trung Quốc. Có hai lý do tại sao. Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam không có khả năng phát minh ra phương pháp đàn áp, cho nên họ sao chép việc đàn áp của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Khi các bạn học được cách của họ trước, thì các bạn có thể phòng ngừa trước. Thứ hai, Cộng sản Trung Quốc không muốn thấy người dân Việt Nam lật đổ chế độ độc tài cộng sản, trở thành một mô hình cho người Trung Quốc. Do đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ giúp Đảng Cộng Sản Việt Nam duy trì sự thống trị độc tài của họ. Nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc không sụp đổ, họ sẽ không cho phép người dân Việt Nam lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam. Vì vậy, sự sụp đổ của Cộng sản Trung Quốc là điều kiện tiên quyết cho sự sụp đổ của các chế độ độc tài khác ở châu Á, như Việt Nam, Bắc Hàn, Miến Điện và các nước khác" (13). Như thế, một vấn đề quan trọng khác lại được đặt ra là liệu Đảng CS Trung Quốc có thể sụp đổ không? Nếu có thì mới nên chờ. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Jeffrey Goldberg của báo The Atlantic, bà ngoại trưởng Mỹ Hilary Rodham Clinton đã quả quyết rằng: "Chế độ của Trung Quốc chắc chắn sẽ sụp đổ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây đang làm những việc vô ích như những gã hề" (14). Chắc chắn lời nhận định này sẽ đem lại nhiều hy vọng cho các nhà hoạch định cuộc cách mạng sắp tới tại VN. c) Cách mạng bằng chính xương máu mình Cuối cùng, những người lên kế hoạch cho cuộc Cách Mạng Bông Lau cần lưu ý đến tinh thần tự quyết dân tộc. Cuộc cách mạng tương lai phải là do đồng bào VN tự đứng lên và phải trả bằng máu xương và mồ hôi nước mắt của người dân Việt, chứ không phải do bàn tay lông lá của ngoại bang gầy dựng nên. Đạp đổ chế độ CS, đó là chủ đích cần và phải đạt tới, nhưng phải đạp đổ với tất cả sự khôn ngoan và cảnh giác. Mỗi quốc gia, đặc biệt là các cường quốc, không bao giờ giúp chúng ta - hoàn toàn vì quyền lợi của chúng ta - mà vì quyền lợi của riêng họ. Hãy lấy gương của Cambodia, nước láng giềng của VN làm ví dụ. Hoa Kỳ đã bỏ rơi nước này để cho Khmer Đỏ chiến thắng Phnom Penh ngày 12-4-1975. Trước đó vài ngày, Đại sứ Mỹ tại Cambodia đề nghị đưa Hoàng Thân Sirik Matak và chính phủ Lon Nol sang Hoa Kỳ tỵ nạn, nhưng Hoàng thân đã viết thư từ chối thẳng thừng với những lời đầy cay đắng: "Tôi không bao giờ mảy may tin rằng quí vị lại có ý bỏ rơi một dân tộc đã chọn lựa tự do... Tôi chỉ phạm phải một sai lầm là đã tin vào quí ngài, những người Mỹ" (15). Trở về VN, số phận cũng không hơn gì Cambodia. Hiệp Định Genève 1954 chia đôi VN do quyền lợi của 5 quốc gia: Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Cộng phối hợp. Hiệp Ước Paris 1973 bán đứng VN cho Trung Cộng, vì quyền lợi của Hoa Kỳ, như Kissinger đã thú nhận. Miền Bắc VN đã có quá nhiều cay đắng khi nhận súng đạn của Trung Cộng. Miền Nam VN cũng không thiếu oan khiên khi làm bạn với Hoa Kỳ. Với bài học quá khứ, người VN cần biết dùng AK để cản đường tiến quân của Nga và Trung Cộng và dùng M16 để ngăn cản Hoa Kỳ can thiệp vào nội bộ VN. Đừng vì quá bức xức với chính sách Hán hoá của Trung Cộng mà nhờ Mỹ tháo dây thắt họng của Trung Cộng ra, để rồi lại lầm lẫn thò cổ vào dây thòng lọng mới của Hoa Kỳ. d) Giải pháp Việt Nam Trung Lập Có thể vì đã nhìn thấy hiểm họa này mà nhiều nhà trí thức VN, điển hình là GS Thạc sĩ Vũ Quốc Thúc và GS Nguyễn Ngọc Huy, đã muốn vận động để Việt Nam được hưởng quy chế Trung Lập (16). Thực ra, có rất nhiều mô hình Trung Lập trên thế giới, vì thường dựa trên quyết định riêng của nước muốn Trung Lập. Nhưng có một mô thức Trung Lập Pháp Lý được quốc tế công nhận theo hai Quy Ước số 5 và 13 của Hội Nghị Quốc Tế La Haye, Hòa Lan, năm 1907. Hiện nay trên thế giới có 3 quốc gia theo mô thức Trung Lập Pháp Lý Vĩnh Viễn. Đó là: Thụy Sĩ, Thụy Điển và Áo quốc (17). Các quốc gia này cam kết không bao giờ được tuyên chiến với bất cứ quốc gia nào. Trong thời bình, cũng không được liên minh quân sự với quốc gia khác hoặc dùng kinh tế để giúp quốc gia khác tăng cường sức mạnh quân sự. Tuy nhiên, các quốc gia này vẫn được quyền duy trì lực lượng quân sự để giữ an ninh trật tự và bảo vệ đất nước. Cần ghi nhận rằng VN là một quốc gia nằm ngay sát một quốc gia quá to lớn và ác độc là Trung Cộng. Không bao giờ VN có khả năng để trang bị một lực lượng quốc phòng đủ sức chống chọi với Trung Cộng. Vì thế, VN nên hướng về giải pháp Trung lập với sự bảo đảm của quốc tế, để tập trung nhân lực và tài lực phát triển kinh tế, làm cho dân giàu nước mạnh. Tóm lại, cuộc Cách Mạng Bông Lau tại VN sẽ vô cùng khó khăn, các phong trào nổi dậy ở trong nước cần phải tính toán rất kỹ để làm sao tiết kiệm xương máu đồng bào và nắm chắc phần thắng, một khi ngọn lửa cách mạng bùng lên. KẾT LUẬN Cuối cùng, để tiếp lửa vào cuộc Cách Mạng Bông Lau, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia hải ngoại có thể làm được những gì? Năm 1975, khi chiếm được miền Nam, Đảng CSVN tưởng rằng chúng đã toàn thắng. Nhưng sự thực, thắng để mà thua, vì chẳng bao lâu sau, học thuyết CS bị đào thải tại Đông Âu, các ông tổ Karl Mark, Lenin, Staline đều bị hạ bệ. Đảng CSVN hiện nay hoàn toàn mất hồn, mất định hướng và đang ngửa tay xin tiền của phe mà họ gọi là "thua trận" hoặc "Mỹ ngụy". Thế mà CSVN dám bảo mình thắng. Thắng ở chỗ nào? Một tên trộm, xài luật rừng, cướp của, giết người. Đó chỉ là hắn đã hoàn thành tội ác, chứ không thể gọi là chiến thắng được. Phải chờ ngày quân cướp bị đưa ra tòa lãnh án thì mới rõ ai thua, ai thắng. CSVN đang ở vào thời điểm hoàng hôn. Thời gian càng đi thì bóng đêm càng tới. Cứ mỗi ngày qua đi là một ngày đến gần bóng tối sự chết. Trái lại, người Việt Quốc Gia lại đang ở trong thời điểm bình minh. Thời gian càng tới thì ánh mặt trời càng rạng rỡ. Mỗi một ngày qua đi là một ngày gần kề cuộc cách mạng huy hoàng. Xin đừng ai vô tình hay cố ý dập tắt ngọn lửa cách mạng này bằng thái độ bi quan hay chia rẽ. Chuyện kể rằng: Có một người đàn ông tị nạn VN, râu tóc trắng phơ, vừa sang Mỹ đoàn tụ với con cái. Suốt ngày ông tự giam mình trong phòng. Thỉnh thoảng, ông ra vườn, ngồi dưới gốc cây, thở vắn thờ dài, đôi lúc hai dòng lệ chảy dài trên má. Một đêm kia, ông mơ thấy mình dẫn đứa con gái đi tham dự buổi đốt nến cầu nguyện cho cuộc cách mạng thành công tại Quê Hương VN. Đang lúc hàng ngàn ngọn nến sáng lung linh thì chỉ có ngọn nến của con ông không sáng. Ông giục con: "Con thắp nến lên đi!" Người con trả lời: "Ba ơi, con đã đốt nến nhiều lần, nhưng mỗi lần con đốt lên thì nước mắt ba lại chảy xuống làm tắt ngọn nến của con." Lúc đó, ông giật mình tỉnh dậy và nhận ra rằng: Nước mắt của ông chỉ giúp ông nguôi ngoai phần nào niềm đau mất nước, nhưng nó không giúp ích gì cho cao trào thắp sáng cuộc Cách Mạng Bông Lau của toàn dân. Niềm mơ ước duy nhất của người dân Việt, nếu họ còn được phép mơ, là mong cho cuộc Cách Mạng Bông Lau sớm nở rộ và thành công, để giành lại Quê Hương từ bàn tay sắt máu của CS. Đây không còn phải là lúc ngồi bất động để than vắn thở dài nữa. Giờ hành động đã điểm. Tất cả những người Việt yêu nước phải thuộc lòng bài học ĐOÀN KẾT, nắm tay nhau, tham gia đi tuyến đầu trong cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền CSVN. Boris Yeltsin đã nói: "Đối với CS, không có chuyện cải sửa, mà cần phải đào thải nó." Và việc đào thải CSVN chính là cuộc "Cách Mạng Bông Lau" vậy.

 

Tiến Sĩ TRẦN AN BÀI

 

CHÚ THÍCH: (1) Theo "Việt Nam Sử Lược" của Trần Trọng Kim, Nhà Xuất Bản Miền Nam, 1971, trang 85) (2) http://saigonecho.com/main/doisong/phapluat/25992-luat-rung.html (3) http://saigonecho.com/main/doisong/phapluat/25761-ban-an-hai-bao-cao-su.html (4) http://saigonecho.com/main/hinhanh/deplavui/category/227-cac-lanh-tu-csvn-doi-mu-cao-su-con-dam.html (5)http://www.saigonecho.com/eng/index.php?option=com_content&view=article&id=822:the-eradication-of-communism-in-indonesia-&catid=27:documents&Itemid=85 (6) http://saigonecho.com/main/tintuc/thoisu/26183-tuyet-voi-ong-truong-tan-sang.html (7) http://saigonecho.com/main/tintuc/thoisu/26434-san-bay-noi-bai-be-ham-cau.html (8)http://www.saigonecho.com/main/tintuc/thoisu/26436-vit-nam-van-la-nuoc-ngheo.html (9) http://www.saigonecho.com/main/tintuc/thoisu/26435-giao-su-ai-cap-noi-ve-cach-mang-hoa-lai.html (10) (Hồi ký, chương 11). (11) http://www.saigonecho.com/main/lichsuvn/37-chientranhvn/26413-thu-le-nhan-gui-phan-van-khai.html (12) http://saigonecho.com/main/lichsuvn/chientranhvn/cacnhanvat/26563-38-tuong-lanh-csvn-.html (13) http://www.saigonecho.com/main/tintuc/binhluan/25991-gia-tang-dan-ap-doi-lap.html (14) http://www.theatlantic.com/international/archive/2011/05/hillary-clinton-chinese-system-is-doomed-leaders-on-a-fools-errand/238591/). (15) http://saigonecho.com/main/trangnha/monanhangngay/25886-mon-n-28-4-2011.html (16) http://www.saigonecho.com/main/doisong/tailieu/26437-quy-che-trung-lap-cho-viet-nam.html (17) Vũ Quốc Thúc "Thời Đại Của Tôi", Cuốn 2, Người Việt 2010, trang 679

 

http://tonthatphusi.centerblog.net/

 

 

 

Par phusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Mercredi 13 juillet 2011 3 13 /07 /Juil /2011 22:58

Minh Triệu, Viết Bằng Trái Tim.

 

Cách đây một tuần chị Minh Đức, mẹ của Minh Triệu gọi báo cho vợ chồng tôi biết cháu Minh Triệu khó thở và sắp đưa đi cấp cứu. Nhưng sau đó, chị lại báo Minh Triệu đã khá lại rồi. Mới hôm qua chị lại cho vợ chồng tôi tin mừng Minh Triệu được giải thưởng truyện ngắn  Viết Về Nước Mỹ do nhật báo Việt Báo ở Nam California tổ chức và mời vợ chồng tôi đến tham dự lể phát giải thưởng vào ngày Chủ Nhật 31 tháng 7 năm 2011 tại Garden Grove Community Center.

Từ xúc động nầy đến xúc động khác, tôi không sao giữ được cảm giác mãnh liệt của tôi đối với Minh Triệu người mà tôi được nhà văn Bùi Ngọc giới thiệu để cùng với Hoàng Sa HmH, Tạ Thạc và Bùi Ngọc viết tập Truyện ngắn và Tùy Bút với tiêu đề “Biển Vẫn Rạt Rào” xuất bản tại California ngày 1 tháng 9 năm 2004 với lời mở đầu của anh Bùi Ngọc nói về Minh Triệu như sau: “Anh là người trẻ tuổi và tài hoa.  Số lượng anh đóng góp không nhiều. Tuy nhiên độc giả sẽ tìm thấy nơi những hàng chữ viết của anh những lời lẽ tha thiết, nồng nàn và lắng đọng. Ở đó tình cảm của anh cũng được thể hiện rất chân tình và ‘rạt rào’ như những đợt sóng biển”.  Rất tiếc nhà văn Bùi Ngọc đã không còn nữa để hãnh diện nhìn thấy người bạn văn của chúng ta Minh Triệu đã viết tự truyện “Bao La Tình Mẹ” và đã trúng giải.  Thật đúng như lời nhận xét của anh, Minh Trệu là một nhà văn trẻ tuổi và tài hoa.

Đọc lại ba bài viết của Minh Triệu bảy năm về trước như bài “Khúc Tình Đơn”, Minh Triệu đã có mối tình đầu với Thảo, lúc đó Minh Triệu đã bị bại liệt nặng nên phải rời ghế nhà trường năm 14 tuổi.  Thảo như một thiên thần đem hào quang xua tan bóng đen của đời mình. Và từ đó Minh Triệu biết làm thơ.

 Bài thơ đầu tiên là  bài “ Xuân Đầu Tiên” nghe rộn rã mà cũng xót xa:

“Ta đợi chờ em từ bấy lâu
“Nàng xuân biền biệt mãi nơi nào?
“Xuân vẫn chưa đến, ta còn đợi
“Một kiếp trăm năm cũng gặp nhau.
“Xuân đến bất ngờ tưởng giấc mơ
“Nhạc lòng rộn rã khúc hoan ca
“Mai vàng rực rỡ khoe hương sắc
“Mừng đón giáng xuân tươi mặn mà
“Mùa xuân là em đến với tôi
“Đôi mắt lung linh ánh sao trời
“Âu yếm nhìn tôi sâu vời vợi
“Nhìn thấu nỗi đau tâm hồn tôi
“Là bờ môi hồng thắm màu tim
“Nụ cười duyên dáng, tóc nhung huyền
“Đem cả mùa xuân đang lồng lộng
“Xuân của riêng tôi, xuân đầu tiên.”

Tiếp đến là bài : “Anh Viết Tên Em”

“Anh viết tên em và tên anh
“Chung một vần ‘T’ đẹp chữ Tình
“Tình em thơ ngây như mây trắng
“Tình anh cao ngất tựa trời xanh

“Mong ước chúng mình mãi có nhau
“Nắng chiều sương sớm, lúc mưa ngâu
“Em về nơi đâu anh ở đó
“Tình mình muôn kiếp đẹp trăng sao”
M

Nhưng định mệnh trớ trêu, Minh Triệu phải theo gia đình qua Hoa Kỳ theo diện HO.  Số phận không cho anh một thể xác khỏe mạnh nhưng anh vẫn tự tạo cho mình một tinh thần mạnh mẽ để sống.  Anh đã ghi tên vào đại học cộng đồng Mesa College với môn học ‘computer’ và hy vọng một ngày nào đó sau khi thành đạt sẽ gặp lại Thảo.  Thời gian trôi nhanh.  Minh Triệu được tin người yêu đi lấy chồng, cảm thấy buồn và tự nhủ: “Dù yêu Thảo nhiều đến đâu anh cũng không thể mang hạnh phúc đến cho Thảo được”.  Và nay Minh Triệu chỉ còn là chiếc bóng bên lề cuộc đời của nàng.

Bài viết thứ hai “Trái Tim Người Mẹ” đã nói hết tình mẫu tử khi vừa mới lọt lòng: “Chúa đã ban cho người một con trai đầu để dâng Ngài như ý nguyện.  Thế nhưng tôi lại bị bệnh ngặt nghèo.  Căn bệnh bại liệt toàn thân đã thiêu hủy sức khoẻ của tôi khi tôi đang còn thơ ấu, bắt tôi phải song hành kết bạn với chiếc xe lăn suốt đời. Chúa đã nhận lời cầu xin của mẹ tôi.  Chúa đã chọn tôi; nhưng theo ý Ngài chứ không theo ý mẹ tôi”.  Thế rồi khi qua định cư tại Mỹ, chị Minh Đức lái xe đưa con cùng đến trường Mesa College để học không may gặp tai nạn lưu thông nhưng may mắn chị thoát chết. Sau ba năm, chị tốt nghiệp Medical Assstant. Minh Triệu tốt nghiệp AA Degree ngành Computer Information Science sau 6 năm vất vả tưởng chừng như không thể nào vượt qua được.  Sau khi tốt nghiệp, bệnh tình của Minh Triệu càng ngày càng suy sụp.  Bệnh Muscular Dystrophy (bệnh teo bắp thịt) đã làm cho hai buồng phổi của Minh Triệu ngày càng teo lại, làm ngộp và khó thở.  Do đó bác sĩ phải mổ chỗ cổ, đặt ống gắn máy để trợ giúp cho sự hô hấp.  Nay cuộc sống của Minh Triêu hoàn toàn nhờ vào máy móc và sự săn sóc của mẹ.   Đôi lúc Minh Triệu không muốn sống vì thân xác đau đớn và tâm hồn vô cùng thác loạn nhưng nhờ có mẹ bên cạnh an ủi: “Con đi rồi, mẹ biết sống cùng ai, biết sống

cho ai nữa?  Triệu ơi!  Mất con rồi đời mẹ thành vô nghĩa, hãy vì mẹ, can đảm lên mà sống!  Mẹ dìu con, con tựa mẹ, nâng đỡ nhau”.  Hai hàng lệ của mẹ hòa với nước mắt của con như làm thành một giao ước không lời.

 

Mẹ quả là dòng suối dịu hiền, bài hát thần tiên, bóng mát trên cao, ánh đuốc trong đêm!  Mẹ cũng là buồng chuối ba hương, xôi nếp một, đường mía lau.  Đó chính là trái tim của mẹ.

Bài thứ ba là  “Biển Vẫn Rạt Rào” cùng với tên của tập truyện “Biển Vẫn Rạt Rào”.  Đây là truyện ngắn do óc tưởng tượng của tác giả Minh Triệu.  Mặc dù chưa bao giờ xuống ghe, xuống biển nhưng Minh Triệu đã viết một câu chuyện tình vượt biên thật cảm động.  Đến giờ xuống ghe Minh Triệu đành bỏ lại người yêu tên Vân ở lại vì nàng đang bệnh nặng.  Trước khi từ giã người yêu, Minh Triệu khẳng định sự chung thủy và hứa sẽ đón chờ nàng bên kia bờ đại dương ngập tràn ánh sáng.  Còn Vân thì chắc chắn khi khỏi bệnh sẽ đi chuyến sau.  Thế rồi khi Minh Triệu đến được đảo Bi-Đông, xem như đến được bến  bờ tự do, chờ mãi chẳng nghe thấy tin tức gì về người yêu của mình.  Suốt ngày anh lang thang quanh đảo một mình như cố đi tìm Vân.  Một hôm, Minh Triệu nhận thư của gia đình báo tin:  Vân đã xuống tàu, đi vượt biên, nay đã hai tháng mà chưa có tin tức gì.  Anh vùng dậy như người điên chạy băng ra biển, nước mắt tuôn dài và la lớn: “Vân ơi!  Vân ơi!  Anh đây, em đâu rồi?”.  Chỉ có sóng biển ngoài khơi chạy vào thì thầm như đáp lại lời gọi: “Em là biển, lòng em là đại dương che chở thương yêu anh mãi mãi nghìn đời”. Những ngày sau, chiều về bên biển vắng, chỉ có tiếng gió trên những ngọn dừa làm nghiêng ngả những tàu lá xanh như cánh tay vẫy chào lưu luyến người đi.  Anh xếp những trang giấy thành những chiếc thuyền nhỏ rồi nhẹ nhàng thả xuống biển.  Con thuyền nhỏ nhấp nhô, chòng chành sau cơn sóng nhẹ rồi từ từ xa bờ mang nặng trĩu lời nhắn của anh với người vợ ngoan hiền không bao giờ cưới. Minh Triệu thì thầm:  “Thuyền anh thì đã cập bến mà biển em thì vẫn mãi rạt rào thương nhớ theo anh. Xin em hãy ngủ yên, một giấc ngủ ngàn đời.  Anh sẽ sống xứng đáng với tình em, sẽ mãi mãi chung thủy với em như sóng biển luôn yêu bờ cát trắng. Vân ơi!”.

Câu chuyện tình vượt biên thật lãng mạn nhưng cũng thật đớn đau. Tuy là hư cấu nhưng rất trùng hợp với muôn ngàn chuyện tình của những thuyền nhân không được may mắn.Xin thắp một nén hương lòng cho những người đã nằm xuống trong lòng đại dương.

Cuối cùng với sức khoẻ yếu kém, Minh Triệu đã viết bài “Bao La Tình Mẹ” để dự thi, anh nằm xe lăn mà viết trên computer, nhưng gỏ phím và bấm ‘mouse’ rât khó khăn đôi lúc tuột tay phải gọi mẹ đến giúp để ngón tay lại trên bàn phím. Minh Triệu cũng đã sáng tác nhạc khúc “Ánh sao Tình Mẹ”. Bài hát nầy đã được các ca sĩ Kim Tử Long và Mai Thiên Vân hát.

 

Những lần gặp Minh Triệu từ San Diego về thăm khu Little Sài Gòn,Nam Cali, tôi thấy cả gia đình, ngoài mẹ vừa là một cô ý tá thường xuyên bên cạnh săn sóc Minh Triệu như một em bé sơ sinh, còn có em gái và em rể đi theo để lo cho Minh Triệu giống như những nhân viên cấp cứu bên cạnh  chiếc xe ‘Ambulance’của bệnh viện.Mỗi lần gặp tôi Minh Triệu đều vui vẻ, lễ phép hỏi: “Kính chào bác,bác có khoẻ không, độ nầy bác có sáng tác thêm gì nữa không?”.  Nhiều lần tiếp xúc với Minh Triệu bên cạnh chiếc xe lăn tôi thấy đôi mắt Minh Triệu luôn sáng ngời mặc dù thân bất động, tiều tụy, da bọc xương, quanh người toàn dây nhợ và máy móc.  Vậy mà Minh Triệu có một sức mạnh nội tâm kỳ lạ chiến đấu và đương đầu với mọi nghịch cảnh.  Chị Minh Đức, mẹ của Minh Triệu là con người sống rất hài hòa với mọi người chung quanh. Cả hai mẹ con vui sống và rất có tình nghĩa.Có lẻ đó chính là sự kiên trì trong niềm tin tôn giáo.

 

Tam Giang Hoàng Đình Báu
Calfornia 14-7-2011

Par phusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Dimanche 26 juin 2011 7 26 /06 /Juin /2011 20:09

 

 

 

Vũ Hữu San

 

  Cầm trong tay tờ đơn gia nhập hội Cựu Quân Nhân, đọc dần xuống cuối trang, người lính ngày xưa ấy nhìn thấy hàng chữ ghi đơn vị cuối cùng. Anh cảm thấy thời gian như lắng đọng,tâm hồn sống trở lại hồi hai mươi mấy năm về trước. Cầm bút,anh viết một hàng chữ thật nắn nót: "Khu Trục Hạm Trần
khánh Dư HQ-4". Lòng anh thêm nhớ thương dào dạt: nhớ kỷ niệm, thương con tàu ...

 

Trước khi về phục vụ cho Hải Quân Việt Nam, chiếc Khu Trục Hạm đó đã vang lừng tên tuổi. U.S.S. Forster - DER 334 - ra đời vào năm 1943 để đáp ứng nhu cầu của Hải Quân Hoa Kỳ trong Thế Chiến thứ hai. Con tàu mang nhiệm vụ chính của một chiến hạm hộ tống hải đội đặc trách phòng không và tiêu diệt tiềm thủy đỉnh. Mang tên một Sĩ Quan Hải Quân Mỹ đãanh dũng hy sinh lúc khởi đầu cuộc chiến, Khu Trục Hạm này được kiến trúc, trang bị và rồi hạ thủy vội vã tại xưởng đóng tàu Consolidated Steel Corporation ở Orange, Taxas, vào ngày 13 tháng 11 năm 1943. Ngay lần ra khơi đầu tiên, khi bảo vệ đoàn thương thuyền vượt Đại Tây Dương sang Anh Quốc, con kình ngư sơ sanh, thiếu tháng, mẹ chưa dậy đủ kỹ thuật săn mồi này hạ ngay một hơi 2 khu trục cơ Đức Quốc và bắn hư hại nặng nhiều chiếc khác. Đến ngày D-Day, 6-6-1944, vào lúc quân Đồng Minh đổ bộ lên bờ biển Normandy, chiến hạm đã
hoàn tất mỹ mãn nhiều công tác hành quân giúp cho việc tiếpvận từ Hoa Kỳ sang Âu Châu được điều hòa.

 

Chiến tranh Đại Tây Dương chấm dứt, sau khi được tuyên dương công trạng trước Hải Quân, U.S.S. Forster được chuyển đổi qua mặt trận Thái Bình Dương. Thế Chiến thứ hai kết liễu, con tàu trở thành một đài thăm dò khí tượng lưu động liên tiếp trong nhiều năm.

 

Vào đầu thập niên 1950, tình hình đột nhiên căng thẳng giữa Mỹ và Nga, có đôi lần đã tưởng xẩy ra đại chiến, con tàu được gọi về, vào ngay Hải Quân Công Xưởng để cải biến và tối tânhóa thành loại Khu Trục Hạm Tiền Thám D.E.R. (Destroyer Escort Radar) với những dụng cụ điện tử đắt tiền nhất thời bấy giờ; chiến hạm được trang bị đầy đủ cả ba hệ thống "mắt thần" về hải thám, không thám và tiền thám. Để có đủ chỗ cho 12 phòng liên hệ về điện tử, điện toán và kiểm pháo, hình dạng con tàu cần phải biến đổi. Phần thượng tầng kiến trúc được nối thêm bằng hợp kim nhôm; hai cột radar vĩ đại mầu đen có ba chân chống được dựng lên sừng sững ở sân giữa. Trung tâm
chiến báo C.I.C. (Combat Information Center) mở rộng ra hết cả chiều ngang con tàu. Hai Radar, SPS-8 (Surface Search) và TACAN (Tactical Aircraft Navigation) được thiết trí với những giàn dây trời khổng lồ vần vũ trên đài chỉ huy và một hệ thống antenna "beehive" góc cạnh chẻ ba ở sân thượng phía sau.
 

  Trong vòng 10 năm, tới 1965: chiến hạm tham dự vào hệ thống báo động tiền phương DEW line (Distant Early Warning). Là một thành phần căn bản vùng Bắc Thái Bình Dương, Khu Trục Hạm Forster có nhiệm vụ phát hiện đầu tiên về những cuộc tấn công bằng phi cơ và hỏa tiễn của Cộng Sản vào lãnh thổ Hoa Kỳ. Nhật ký chiến hạm ghi nhận các công tác được thi hành mỹ mãn và đặc biệt đã được tuyển chọn làm đơn vị gương mẫu của Hải Quân Hoa Kỳ. Đài chỉ huy của Khu Trục Hạm lúc đó mang đầy huy chương và dấu hiệu Ưu Hạng E (Exellent).

 

Chiến hạm được chuyển giao qua Hải Quân Việt Nam vào cuốnăm 1971 tại Hải Xưởng Guam. Khu Trục Hạm mang chiến số HQ-4 và danh hiệu một trong Ngũ Hổ Tướng đời Trần: Nhân Huệ Vương Trầnh Khánh Dư. Thủy thủ đoàn lúc đầu được chọn lọc và trang bị đầy đủ cấp số, trong đó có cả một Y sĩ Hải
Quân. Khu Trục Hạm này là một niềm hãnh diện của cả Hải Quân Việt Nam, thời ấy chiếc chiến hạm chủ lực đầu tiên và độc nhấtcó vận tốc hơn 20 gút. Từ đó trên biển Đông, khi nước và gió thuận chiều, dưới bảng quốc kỳ Việt Nam phất phới tung bay, con tàu tuần tiễu di hành có khi tới 24 hải lý một giờ.

 

Người đi biển thường tin rằng những con tàu có linh hồn. Mỗi chuyến ra khơi, thủy thủ đoàn hay nhận được nhiều điềm lành ứng báo trước cho những chiến công sắp tới, đôi lần ngay khi toàn thể thủy thủ đoàn trang trọng xếp hàng ngay ngắn chào tiễn biệt quân cảng ra khơi. Có người còn kể chuyện là đã được biết trước, quả quyết với đồng đội về tốt đẹp của chuyến đi. Người lính thủy nào trên Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư cũng đều hay những sự linh thiêng hiển hiện đó. Chỉ ít tháng sau khi nhận lãnh, trong lúc đang tuần dương tại vùng biển cực Bắc, Khu Trục Hạm được lệnh vượt hàng ngàn cây số đường biển hỏa tốc xuôi Nam, săn đuổi và tiêu diệt tàu địch trong vùng vịnh Thái Lan. Đại dương nổi sóng, chiến hạm địch tuy có ngụy trang nhưng cũng vẫn bị phát hiện và bị bắn chìm xuống lòng biển sâu, mang theo nhiều ngàn vũ khí các loại. Thủy thủ đoàn địch bị chết, bị bắt sống nhiều tên, trong
đó có cả Sĩ Quân Hải Quân cao cấp Cộng Sản. Chiến hạm được tuyên dương công trạng trước Quân Đội.

  Kỹ thuật tốt, vận tốc nhanh, khả năng thám sát và tác chiến cao,chiến hạm không hề vắng mặt mỗi khi nhu cầu quốc phòng kêu gọi tới. Đánh giặc đã hay mà bắt cướp, diệt buôn lậu cũng tài. Qua 4 năm vùng vẫy trên biển Đông, Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 còn nổi danh vì hai lần bắt tàu ngoại quốcbuôn lậu chuyên chở bạch phiến và thuốc phiện, tịch thu hàng chục tấn ma túy. Thành tích này có tính cách quốc tế và là một kỷ lục khó bị phá vỡ.

 

Trong những năm cuối cùng của cuộc chiến, tình trạng tiếp vận yếu kém tuy có làm sút giảm khả năng chiến hạm đôi chút nhưng tinh thần người lính biển lúc nào cũng vẫn cao. Khi các đơn vị pháo binh bắt đầu bị hạn chế đạn dược thì quân đội bạn hành quân vùng duyên hải cần sự tăng cường về yểm trợ hải
pháo. Thủy thủ đoàn HQ-4 nhiều khi thức trắng đêm, tác xạ hàng ngàn trái đạn lên đầu địch quân. Hai cỗ đại pháo do đó bị soi mòn nhiều, thường phải thay nòng súng luôn luôn.

Rồi đầu năm 1974, nghe nơi vùng Đông Hải chứa nhiều dầu, khí Trung Cộng bèn âm mưu xâm chiến quần đảo Hoàng Sa. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư lại ra khơi mang theo chuyến hải hành mỗi căm hờn của toàn dân Việt trong việc bảo vệ hải biên. Biển Đông nổi sóng cuồng loạn vì hải chiến. Phía địch,hai Hộ Tống Hạm bị chìm tại chỗ, hai chiếc khác hư hại nặng. Tuy vậy, lực lượng trú phòng của ta trên bờ không đủ tiếp viện, lại thiếu không trợ nên các hải đảo bị quân Trung Cộng tràn ngập.

Trong khi thành bại của chiến dịch là do chiến lược, chiến thuật đem áp dụng bởi những vị Tư Lệnh cao cấp thì vinh dự của một đơn vị tham dự là do thành quả tốt đẹp đã đạt được ngoài chiến trường so với khả năng tác chiến. Dù sao người lính thủy của Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 cũng vẫn thường kể rằng gần 200 năm sau khi vua Quang Trung đại phá quân Thanh, lần đầu tiên họ đã đại diện cho Việt Nam đánh nhau chống kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Còn nói tới hải chiến, đây là lần thứ nhất Nam quân tác chiến ngoài đại dương.

Sau 3 năm mang nặng tinh thần phục vụ Tổ Quốc, HQ-4 được tuyên dương công trạng hai lần trước Quân Đội; thủy thủ đoàn hãnh diện mang dây biểu chương mầu Anh Dũng Bội Tinh. Hội đồng chính phủ cũng ghi công chiến hạm bằng một huy chương Tài Chánh Bội Tinh. Thật chưa bao giờ trong Quân Chủng có một đơn vị nào được vinh dự hơn!  Bình thường, chiến hạm được nghỉ bến sau hai năm hải hành để về sửa chữa đại kỳ, nhưng vì nhu cầu chiến trường đòi hỏi, con tàu vẫn tiếp tục công tác cho tới đầu năm 1975. Mùa Xuân năm ấy khi quân địch tràn vào, HQ-4 đang nằm trong Hải Quân Công Xưởng, tất cả máy móc, vũ khí bị tháo gỡ toàn diện để tu trang. Con tàu tuy được vội vã ráp nối nhưng không còn kịp để ra khơi. Số mệnh đã an bài, những ngày oai hùng của Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư nay đành chấm dứt!  Người viết theo đoàn người ly hương, trở thành kẻ tị nạn lang thang nơi xứ lạ quê người. Bẵng đi 2, 3 năm, tuy có nhớ về đơn vị cũ, anh chỉ mong sao cho con tàu không trở thành một phương tiện chiến tranh phục vụ kẻ thù. Niềm ao ước thành sự thực và được chứng minh một cách tình cờ vào một ngày đẹp trời nơi xứ Gia Nã Đại. Gia đình đưa anh coi một tờ báo trong đó Cộng Sản Việt Nam cho in hình chiến hạm cũ của anh làm phương tiện tuyên truyền. Xem kỹ tấm ảnh, lòng anh xiết bao thanh thản. Với con mắt của một người thủy thủ già, bỏ qua những lớp sơn phết giả tạo mà kẻ thù đã giả trang cho chiến hạm, anh biết rằng con tàu thân yêu của anh vẫn còn tiếp tục nằm bến. Khu Trục Hạm ngày đó, nay thiếu hẳn hệ thống Radar hải pháo, lại mất nhiều giây trời truyền tin điện tử; đến cả những gạt nước trên đài chỉ huy và máy đo gió cũng không
còn hoạt động. Với tình trạng ấy, chiến hạm nhất định chưa bao giờ ra khơi. Việt Cộng xâm lăng xứ Cambodge, nỗ lực chận bắt người vượt biển tìm tự do nhưng chiếc tàu ấy vẫn chưa một lần nhúng tay vào tội ác!

Các ấn bản của Jane's Fighting Ships liên tiếp trong nhiều năm cũng xác nhận là những chiến hạm, chiến đỉnh HQVNCH ngày ấy bị bỏ lại đến nay vẫn còn chạy, chỉ riêng có Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư là bất khiển dụng vì Cộng Sản không thể sửa chữa được. Phải có một sự linh thiêng nào giúp cho con tàu, sau hơn 30 năm tung hoành hiên ngang khắp mặt đại dương mà ngày nay nằm trong tay địch cũng như Từ Thứ đã về Tào nhưng suốt đời không phù ngụy nghĩa.

Nói về chiến hạm nào, người ta hay kể tới các Hạm Trưởng của con tàu ấy. Nhiều vị Đô Đốc, Đại tá Hải Quân Hoa Kỳ xuất thân từ U.S.S. Forster. Các vị chỉ huy Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư tuy không được may mắn nhiều như vậy nhưng vẫn có nhiều điều đáng nói.

Từ xưa, số phận Hạm Trưởng và chiến hạm thường liên hệ với nhau. Vị Hạm Trưởng đầu tiên nhận lãnh tàu tượng trưng cho cái oai phong lẫm liệt của Phó Đô Tướng Quân Trần Khánh Dư lúc kháng Nguyên. Sau chiến công thủy táng tàu địch, Ông là vị Hạm Trưởng đầu tiên của Hải Quân VNCH mang cấp bậc
Đại Tá thực thụ và cũng là vị Sĩ Quan trẻ nhất trong cấp bậc này. Thật là điều hãn hữu khi Chỉ Huy Trưởng của Hải Đội còn thua ông một "vạch vàng" và Tư Lệnh Hạm Đội cũng chỉ đồng cấp với Ông mà thôi. Cũng kể từ đó, Hạm Trưởng các chiến hạm chủ lực thuộc Hạm Đội của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa mới bắt đầu được mang cấp bậc Đại Tá (captain) cho tương xứng với chức vụ, bảng cấp số và cũng là đúng với tuyền thống Hải Quản quốc tế. Trời đất cũng ganh ghét kẻ anh tài. Ông phải rời tàu vì nhuốm bạo bệnh sau đó ít tháng thì từ trần. Khi người viết thuyên chuyển xuống phục vụ chiến hạm một năm sau, cái hùng khí của Ông còn lẩn khuất đâu đây. Đôi khi thủy thủ đoàn như mường tượng thấy Ông đang đứng trên đài chỉ huy dẫn lộ chiến hạm vượt ngàn hải lý rượt đuổi quân thù. Vết chân Ông còn như in dấu cạnh la ban tả hạm nơi Ông kiên quyết ra lệnh tác xạ tiêu diệt tàu địch.

Vị Hạm Trưởng kế nhiệm mang hình ảnh sảng khoái nhưng uy nhiệm của tướng lãnh đời nhà Trần lúc nhập tiệc khao quân chiến thắng khôi phục Thăng Long. Ông có vẻ mặt vừa khoan hòa vừa cương quyết như khi người xưa đang tập trung nghị lực để chờ giờ quyết định tử chiến với quân thù tại ngoài khơi Vân Đồn. Trong giai đoạn tương đối ít sôi động này, Ông được ghi nhận nhiều công lao yểm trợ đắc lực cho quân bạn suốt "mùa hè đỏ lửa" và tham dự một lần chận bắt ghe tàu buôn lậu quốc tế.

Gần hai năm cuối cùng, Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đặt dưới quyền chỉ huy của một Sĩ quan trẻ tuổi. Để khuyến khích Sĩ quan và Đoàn viên noi gương vị anh hùng mà chiến hạm mang danh hiệu, Ông. thường đọc tiểu sử Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư và đặc biệt khuyến cáo nhân viên thuộc lòng bài thơ "Bán Than".

Chiến trận sôi động khắp toàn quốc, con tàu có nhiều dịp vùng vẫy khắp biển Đông cũng như trong vịnh Thái Lan. Cộng Sản mở nhiều đợt tấn công, chiến hạm như một pháo đài lưu động vừa tuần dương vừa yểm trở quân bạn trên bờ. Hết diệt loạn trong nước lại đến chống giặc ngoại xâm. Nhớ khi xưa Trần
Khánh Dư dẹp Mông Cổ, HQ-4 được phái ra Hoàng Sa giữ nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch trong giai đoạn đầu, sau đó dẫn đạo một hải đội khi hải chiến.  Như "Bán Than" là bài thơ nôm đầu tiên, Hạm Trưởng đời thứ ba của Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư cũng hãnh diện là người Sĩ Quan đầu tiên của Hạm đội được vinh dự mang đầy đủ một hàng huy chương đặc biệt trên ngực áo bên phải vì các đơn vịÔng phục vụ và chỉ huy được tuyên dương công trạng tập thể nhiều lần.

Một lời thốt ra có thể vận vào với số phận. Không ai biết ngày xưa Trần Khánh Dư vì lỗi lầm gì mà phải đi bán than. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư dù "nghĩ mình lem luốc" nhưng một lòngvẫn nguyện "ở với khói hương cho vẹn kiếp" và "xem sắt đá có bền gan?" ... Người bán than Trần Khánh Dư, sau cơn thử thách chờ đợi tại Chí Linh, lại xuất hiện để đi làm lịch sử. Linh hồn Khu Trục Hạm HQ-4 chắc vẫn mong mỏi một ngày nào gió thuận nước xuôi, lại uy dũng ra khơi vẫy vùng cho thỏa sức mà phục vụ lý tưởng quốc gia. Chiến hạm thân yêu ơi, đừng buồn nhé! Hãy can đảm lên, nhẫnnhục chờ thời để rồi lại hiên ngang tiến tới. Nhớ xưa Trần Khánh Dư đã từng một thời vinh hiển làm hầu tước mà số phận đổi dời, phải nhận nghiệp bán than. Sau đó từ một thân bại
tướng, ông vẫn kiên tâm quyết chiến, lật ngược cả thời cuộc trong trận đại thắng Vân Đồn ...

Ngày mai kia, quân thù rồi cũng sẽ bị diệt vong, ngươi lại ra khơi tạo lại danh xưa. Người viết, một thời sát cánh cùng người, tuy mỗi tuổi mỗi già, vẫn bền tâm chờ đợi ...

 

Vũ Hữu San, 1979

 

Par phusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Samedi 25 juin 2011 6 25 /06 /Juin /2011 21:34

**

Phó đề đốc Nguyễn Hữu Chí  - 1975  

Phó đề đốc Nguyễn Hữu Chí  - 1975

 

  Ngày 19 tháng 6 năm 2011   

Những Vần Thơ BIỂN của  TÔN THẤT PHÚ SĨ
Tưởng Niệm Nhà Thơ HỮU PHƯƠNG ,
 ( cố Phó Đề-Đốc NGUYỄN HỮU CHÍ  )

 

Nhà Thơ HỮU PHƯƠNG không còn nữa, cố Phó Đề-Đốc NGUYỄN HỮU CHÍ đã mất sáng ngày 28 tháng 6 năm 1988 tại Hoa Kỳ !
  Hình ảnh của một thi-sĩ Hải quân với những vần thơ giàu lòng nhân ái, nặng tình biển cả, tha thiết với quê hương nay đã quá vãng nhưng luôn để lại trong lòng người yêu thơ cảm tình nhân hậu, nhơn cách cao quý của Người đă khuất.  Và  đối với những người đã có thời cùng khoát chung màu áo, cố Phó Đề-Đốc đã ra đi vĩnh viễn, song hình ảnh của Người đã cùng tham gia trận mạc khắp vùng sông nước, hay hành quân hải kích dũng cảm, tận hậu tuyến của đối phương đầy hiểm nguy, mà chiến thắng không được ghi danh, sẽ không bao giờ phai lạt trong ký ức kính phục thương tiếc của biết bao chiến sĩ Hải quân !
  Mấy hôm trước, xuất hiện trên trang Blog của nhà thơ Hải quân Tôn Thất Phú Sĩ : " "Theo gót Nhà Thơ Hữu Phương ‘cựu Phó Đề-Đốc Nguyễn Hữu Chí ‘ Niên Đệ Tôn Thất Phú Sĩ xin gởi những vần thơ về BIỂN để tuởng niệm Người" . Tuy lời văn ngắn ngủi nhưng bao hàm biết bao tình cảm quý trọng, nhắc nhở cho những người đã có thời phục vụ trên chiến hạm, chiến đỉnh hay ở hải đảo xa xôi, hình ảnh của vị chỉ huy đã vĩnh biệt , song còn lưu lại bao kỷ niệm trong đời quân ngủ đối với cả quân chủng. Trên trang Blog, những bài Thơ Biển của Tôn Thất Phú Sĩ đã sáng tác bao năm tháng qua, được góp lại để tưởng nhớ thi nhân, bậc Đàn Anh đã quá vãng ở hải ngoại 23 năm trước !
  Khi đọc dòng chữ tưởng niệm này, người viết không khỏi nhớ lại kỷ niệm cũ, năm 1965, phục vụ dưới quyền của vị chỉ huy nay đã quá vãng, trong một đại đơn vị Hải quân ở Đà Nẵng. Phong cách đức độ của vị chỉ huy thể hiện qua sinh hoạt hằng ngày, gần gủi thuôc cấp, ân cần với các cấp Sĩ quan. Thời ấy, tác phẩm "Luống Biển" của nhà thơ Hữu Phương đã được xuất bản ; người viết rất hân hạnh được tác giả đề tặng tập thơ, hơn bốn mươi lăm năm qua.
  Trong ký-ức hồi nhớ qúa-khứ , phục vụ quân chủng Hải quân, thời gian tại Đà Nẵng, người viết đựợc tháp tùng vị chỉ huy trưởng theo đoàn khinh-tốc-đỉnh dưới màn đêm bao phủ, rẻ sóng tiến ra Biển Bắc.  Hay những năm trên chiến hạm, trên bờ ở Hải xưởng Sài Gòn, Thuỷ xưởng miền Tây, sửa chữa kỹ thuật cho các giang đoàn,  hoặc cùng đoàn chiến đỉnh hành quân, trục vớt tàu chìm : đồng Tháp Mười, sông rạch đồng bằng Sông Cửu Long.
   Người quân nhân áo trắng, cuộc sống thường nhật với trời biển bao la, những chuyến công tác tuần dương, tiếp tế,  hải hành dài ngày, tới tận hải đảo xa xôi hay miền cát trắng, thường mang theo nổi mong nhớ người thân ở bến nhà, những ước mơ về tình yêu, ấp ủ mối tình thoáng mộng, hay thả hồn theo mộng tưởng đã hun-đúc thành nhiều nhạc sĩ, hoạ sĩ , thi sĩ tài hoa, nhà văn nổi tiếng. Họ đã sáng tác nhiều tác phẩm văn chương nghệ thuật từ thơ, văn, nhạc  thơ mộng,  trữ tình cho đến các bức hoạ nhuốm màu sắc của trời xanh, hoa biển trắng, cát vàng, rực hồng ánh bình minh… 
   Trong số những thi-văn-nhân, nhạc sĩ, hoạ sĩ nổi danh ấy có nhà thơ TÔN THẤT PHÚ SĨ, một Sĩ quan Hải quân.  Sinh trưởng ở Đà Nẵng nơi có dòng Sông Hàn, bán đảo Sơn Trà, Ngủ Hành Sơn với biển rộng bao quanh, phong cảnh hữu tình, nên đã ôm ấp nếp sống với giấc mộng viễn du ; và theo dấu chân của vị đàn anh nhà thơ HỮU PHƯƠNG, đã cảm tác nhiều vần thơ kỷ niệm về tuổi học trò, về tình yêu, quê hương , đặc biệt những bài thơ về Biển.  
    Nhà thơ Phú Sĩ trong những năm qua, đã cùng nhà thơ Kim Thành, nguyên cựu Giáo sư  trường Trung học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, trường Trung hoc Võ Tánh, Nha Trang đã xuất bản hai Thi Tập "BẾN ĐỢI 1"  và  "Bến ĐỢI 2" đã được bạn đọc yêu thơ khắp nơi ngưỡng mộ, đón nhận.
   Dưới đề mục  "Những  Vần Thơ BIỂN của Tôn Thất Phú Sĩ " , nhà thơ đã khéo ghi xuất xứ của bài thơ trích từ hai Thi phẩm đã xuất bản ; bao gồm 38 bài thơ của nữ sĩ Kim Thành, 39 bài của nhà thơ Phú Sĩ trong "BẾN ĐỢI 1" ; 40 bài của Kim Thành, 40 bài của Phú Sĩ trong "BẾN ĐỢI 2" .
  Trong phạm  vi những Vần Thơ Biển, có rất nhiều tựa đề mà chỉ mới đọc lên, đã hình dung hình ảnh của mộng hải hồ, hay từ biệt để theo tàu ra đi, đến bến bờ xa xôi , chân trời rộng mở, biển cả bao la, hiện lên trong trí tưởng của người đọc khi gặp các bài thơ  "Mẹ Ơi Biển Gọi",  "Biệt Ly", "Xin Đừng Hỏi Biển", "Áo Trắng Biển Xanh", "Bồng Bềnh Biển Khơi"  …
   Miền Trung, sông Hàn đổ vào vịnh Đà Nẵng, hướng ra cửa biển, khung cảnh trời biển hùng vĩ này đã để lại cho nhà thơ Hải quân biết bao mộng tưởng tương lai, viễn du đến chân trời xa lạ. Hồi tưởng thuở ấu thơ, nhà thơ mường tượng về :

 

Mẹ sinh con bên bờ cong chữ S
Bài hát ru theo chiếc võng đù đưa
Lời mẹ êm thiết tha tình biển gọi
Võng tròng trành theo nhịp tàu đong đưa
(Mẹ Ơi Biển Gọi)

  

   Và ngày bước vào đời với mộng viễn-du : ý thơ dạt dào lòng yêu biển, mơ về trời cao biển rộng như gởi gấm vào đó tuổi xuân hay tâm hồn mình, tiếng sóng vổ về , ý tưởng của nhà hàng hải với biển như bất phân ly qua những câu sau :

 

Vào biển lòng ta phơi phới
Tuổi xuân dâng trọn cho đời
Vỗ về sóng nuôi ta lớn
Miệt mài theo sóng biển ơi !
(Áo Trắng Biển Xanh)

 

  Tư tưởng này không khác tư duy của  thi hào Pháp Charles Baudelaire (1821 – 1867) , trong bài thơ có tựa đề    "Con người và biển"   ("L’homme et la mer"). Nguyên bản và phỏng dịch. Mô tả trong bài thơ là người yêu biển mang suy tư về cuộc đời, lấy biển để tự soi lòng mình.

 

« Homme libre, toujours tu chériras la mer!
La mer est ton miroir, tu contemples ton âme
Dans le déroulement infini de sa lame
Et ton esprit n'est pas un gouffre moins amer. »

 

Hởi người tự do, phải chăng luôn yêu biển !
Gương soi là biển, ngươi tự lặng ngắm linh hồn
Bất tận làn sóng cuốn
Tinh thần sầu thảm không hẳn bên bờ vực sâu.

 

   Thơ Phú Sĩ cũng đậm nét trữ tình, có mối tình phớt qua đầy tính lãng mạn, cho đến khi tưởng như ước mơ đã thành hiện thực thì con thuyền nhỏ đã đưa đi xa ; rồi giờ phút chia tay đến đã rơi  lệ  :

 

Rồi bỗng một ngày em hiểu anh
Tình ta vằng vặt ánh trăng rằm
Là ngày anh xuống con thuyền nhỏ
Nợ tang bồng theo cuộc chiến chinh
……………………………………………
Bờ chờ bến đợi đưa tay vẫy
Giọt lệ không rơi nước mắt lại nhoà
(Biệt Ly)

 

   Những mối tình trong thơ, mang tính trong trắng và rất nên thơ của đôi bạn, nhưng tâm hồn của người thanh niên nặng tình biển cả, vì biển như có sức cuốn hút vào nếp sống ngắm nhìn chân trời bao la ;  nên :

Tháng năm dài theo con tàu lênh đênh
Bước phiêu du nhiều khi nghe hiu quạnh
Neo tuổi vàng giữa sóng nước mông mênh
………………………………………………..
Bao nhiêu lần tàu quay về bến cũ
Em lặng thầm tư lự nổi chờ mong
(Xin Đừng Trách)

 

   Trong tâm hồn mang nặng lòng yêu biển, nếp sống có trời cao biển rộng, thì  bên " tình biển" bên  "tình em " , dẫu cho "Em và biển tình yêu anh rộng mở" , nhưng sau những ngày con tàu trở về yên nghỉ, rồi theo tiếng biển gọi, lại ra đi :

 

Chiều xuống thấp con tàu nằm yên nghỉ
Ngày tháng phiêu bồng hải âu cánh mỏi
Gió trùng khơi thì thầm như muốn gọi
Ngày mai này anh vào biển xa em
(Tình Biển và Tình Em)

 

   Do đó, biết là "Lòng ta hạt muối mặn môi người tình", liệu nhà hàng hải ấp-ủ mộng viễn-du trong cuộc, có dừng bước bên mối tình thơ mộng ấy, để cùng nhau hướng về một chân trời  chứa chan niềm hy vọng, hay "Thuyền  theo trăng nước lững lờ" ? Xin hãy cùng nghe lời tình tự :

 

Bờ cát trắng, chân trời xa
Dấu chân kỷ niệm thiết tha ngọn triều
Thuyền ra cửa biển tiêu điều
Người đành ở lại trăm chiều quạnh hiu
(Xin Đừng Hỏi Biển)

  

   Sống giữa biển trời bao la, ngày gió êm biển lặng hay cuồng phong bảo táp, đêm khuya trời biển tối đen một màu, dưới những vì sao cao thẳm, khí lạnh về khuya, cổ áo kéo cao, người thuỷ thủ không khỏi cảm thấy bé nhỏ trước thiên nhiên.  Sóng vổ mạnh vào mạn tàu hoà cùng tiếng máy chạy, nghe gió rít, cảm giác đơn độc trong đêm hải hành, lẻ loi như bên mình chỉ có ánh sao xa xăm  dẫn đường.  Nhà Thơ Hải quân trong đêm dài giữa đại dương hay biển cả, sống với biển nhưng hình bóng người yêu luôn trong tâm tưởng ; cảm nhận sâu xa và rung-cảm của tác giả :

 

Sao Bắc Đẩu dẫn đường
Bên em và bên biển
Bên nào cũng vấn vương
Ngọn Hải Đăng rực sáng

Soi tình em khát khao
Trời mây nước xôn xao
……………………………………………..
Anh yêu em như anh yêu biển
Biển trong hồn và em ở trong tim
(Con Tàu Và Biển)

  

   Tính lãng mạn về tình yêu của nhà thơ Hải quân, biểu thị rõ nét trong những vần THƠ BIỂN, tình yêu đến như ánh sáng chói loà, như làn hương lan toã, hay hình bóng diễm kiều cao xa mà nhà hàng hải vốn mơ về mộng viễn-du cũng có giây phút xiêu lòng, cũng mong "dòng lá thắm" (Kiều. "Dòng lá thắm" sự tích Đời Đường lá đỏ đề thơ từ dòng ngự câu trôi ra…) ; nhưng thương thay tằm chưa nhả hết tơ  đã chết :

 

Tơ tằm chưa dệt thành mơ
Con tằm đã chết mộng hờ thiên thu
(Bồng Bềnh Biển Khơi)

 

   Trong văn hoá dân gian, con tằm rút ruột nhả tơ, thành con ngài có cánh rồi hoá bướm. Chuyện kể về tằm hoá bướm đã làm đầu đề thêu dệt cho bao nhiêu chuyện tình tưởng tượng, chết hóa thành bướm, phong phú nên thơ ; và ngay cả trên thi-đàn cũng có nhiều bài thơ bướm vàng tình tứ.  Ở đây, trong bài " Bòng Bềnh Biển Khơi" , nhà hàng hải khi cuốn buồm lại, dừng chân ngưng nghỉ, lên bờ (trong Hải quân gọi "đi bờ" là đi ra phố, "lên bờ" là về bến),  không khỏi chạnh lòng nhớ kỷ niệm xưa, ngày tháng qua như hoa khép kín, bỗng bừng sáng trong trí tưởng  "em tôi tóc ngắn má hồng …" và cũng đã "nắn nót một bài thơ" .  Qua hai câu thơ vừa dẫn, "tằm đã chết" nhưng nhà thơ đã thi-vị-hoá bướm vàng trên đồi thông, buớm lượn miên man, nhả phấn hồng khắp đất trời, như tiếc thương cho giấc mơ xưa nay đã lở làn chỉ còn là mộng tưởng không tìm lại được bên hình bóng cũ :

 

Trên đồi thông gió vi vu
Có con bướm lượn nhởn nhơ cánh vàng
Bướm sao cứ mãi lang thang
Phấn hồng bướm thả mênh mang đất trời

 

Thuyền tôi từ độ ra khơi         
Biển xanh sông rộng chơi vơi giữa dòng
Em tôi má vẫn còn hồng
Đời tôi vẫn cứ bồng bênh biển khơi
(Bồng Bềnh Biển Khơi)

 

  Nhà thơ Hải quân qua hai Thi Phẩm "BẾN ĐỢI 1" và  "BẾN ĐỢI 2"  đã không dấu giếm nói lên tâm sự của mình, nổi lòng của người trước thế cuộc, đã nhắc tới dòng Hương giang ("Huế Trong Tôi"), Sông Cửu ("Mỹ Tho Quê Hương Em") , và như "gió cuốn mây trôi " tới tận trời Tây, ngắm dòng Sông Seine ("Buổi Sáng Đi Dạo Bờ Sông Seine"),  nhưng hồi-tưởng quê nhà : "…Sáng nay thương quá dòng sông nhỏ,  Quay quắt trong tôi nổi nhớ nhà" .

   Và ngày giã từ biển cả, nhà thơ Hải quân giã từ cuộc chiến trong uất nghẹn, không khỏi xúc động diến tả qua vần thơ u-uẩn :

 

Thôi đã hết nay xin từ giã biển
Vẫy tay chào nước mắt ướt quanh mi
Ta muốn gởi cho ai lời trăn trối
Biết biển buồn khi tiễn một người đi
(Ngơ Ngác Giữa Âm Xa)

 

  Dù phải gĩa từ biển cả, nhưng nhà hàng hải không quên con tàu với mình đã trải qua bao hải trình, tình cảm gắn bó với con tàu như bóng với hình ; con tàu nằm đó, hải âu không còn bay theo tàu đến cuối trời ; chính loài chim biển từng là bạn đồng hành với con tàu với người thuỷ thủ dù trước sóng to gió lớn, trong bao nhiêu năm tháng giữa trời biển ; nay phải xa lià cảnh cũ như cùng cảm thông nổi buồn :

 

Con tàu đó xác thân vùi trong cát
Nửa thân tàn nằm yên ngủ thâm sâu
Nửa thân kia vương víu vọng trời cao
Con chim biển khóc tình sao Bắc Đẩu
(cùng bài Ngơ Ngác Giũa Âm Xa )

 

 Ton-That-Phu-Si.jpg 

 1964

 

   Nhà thơ Hữu Phương, cố Phó Đề-Đốc Nguyễn Hữu Chí, tốt  nghiệp khoá 3 Trường Sĩ quan Hải quân (SQ HQ) Nha Trang. Trong Hải quân, đặt tên khoá theo 12 cung trên Hoàng Đạo, khoá 3 là Đệ Nhất Song Nam.
Sau khoá 3, kế tiếp 12 khoá đào tạo Sĩ quan Hải Quân cũng tại Trường SQ HQ Nha Trang , tức khoá 15 ; tên của khoá này là Đệ Nhị Song Nam.  Nhà thơ Hải quânTôn Thất Phú Sĩ  tốt nghiệp khoá 15. Dòng thơ từ vị Sĩ quan đàn anh là thi sĩ Hữu Phương, tốt nghiệp cùng trường, như  đã theo truyền thống Hải quân truyền lại cho Sĩ quan đàn em, nhà thơ Phú Sĩ .
Theo sách  "Hải Sử - Lược-Sử Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hoà" , Tác giả  Vũ Hữu San, nhà thơ Hữu Phương đã xuất bản ở Sài Gòn trước 1975 , 3 Tập Thơ :  "Luống Biển", "Tâm Sự Người Đi Biển", "Neo Tuổi Vàng".  Và tại Hải Ngoại, sáng tác nhiều thời kỳ, các bản thảo Tập Thơ có tựa đề "Kiếp Lưu Đày" gồm nhiều tập. 
Một số di-cảo, những trang thơ, đánh máy trên giấy mỏng đã cũ, mực nhoè, sau gần 50 năm ; đã được gia đình cố Phó Đề-Đốc lưu trử và đã đưa lên Internet để vừa phổ biến dễ dàng và vừa cất giữ cẩn thận khỏi bị hư hỏng. Qua đó, đã tìm thấy nhiều bài thơ, có ghi ngày vắng tắc, thí dụ  "29.09.65" hay  "ĐN.03.08.65" ; được hiểu là sáng tác tại Đà Nẵng ngày 03 tháng 8 năm 1965 ; thời gian ấy nhà thơ là một Sĩ quan cấp Tá đang chỉ huy một đại đơn vị Hải quân tại Đà Nẵng.
Hai nhà thơ Hải quân, tốt nghiệp cách nhau 12 khoá, nhưng cùng mang tên khoá Song Nam :  Đệ Nhất Song Nam khoá đàn anh, Đệ Nhị Song Nam khoá đàn em ; như thể có mối liên hệ, truyền cảm vô hình, kỳ diệu.  Cả hai nhà thơ đều có tâm hồn yêu biển, nặng tình trời biển bao la, tha phưong nhớ tưởng quê hương, đã sáng tác rất nhiều bài thơ  tình cảm,  những mối tình tha thiết, đắm đuối trong mộng tưởng mà cuối cùng chỉ lưu lại trong tâm tư kỷ niệm lưu luyến, mơ tưởng và hoài niệm.
Bài thơ  "Tình Biển" của Hữu Phương, nhà hàng hải rời xa quê cũ, nơi đó có  người thương, bỗng có ngày trở về giây phút hồi tưởng ngày ra đi  "lúc giã từ, tiếng chân lui mãi" và gặp lại người thương lòng hân hoan mừng rở :

Thế về đây công viên xưa còn đó
Hoa đang muà rực rỡ dưới trời mai
Em vui mừng run rẩy cả bờ vai
Tóc bỏ xoả lưng chừng nghe âu yếm
Rừng lan trắng một mình em kiều diễm
Chính vì em : Chúa tể các loài hoa
(Tình Biển)

 Nhưng cuộc đời theo mộng hải hồ, nhà hàng hải không bỏ biển, trở về với trời cao,  chân trời bao la, biết là đi xa nhung nhớ, mơ tưởng ; nhưng nghe tiếng gọi của biển, đã tiếp tục dương cao ngọn buồm lộng gió, thuyền tách bến ra khơi, mơ như có người thương theo suốt cả hành trình :

Mỗi lần xa, tôi nhớ nước cùng mây
Mỗi lần xa, tôi nhớ dáng em gầy
Em là sóng … nụ cười lên hoa trắng
(Tình Biển)

 

  Hai nhà thơ, hai vần thơ, cách nhau non nửa thế kỷ, nhưng biết bao tâm tư, rung cảm, mơ ước như cùng một ý thơ, cùng nguồn thi cảm vô bờ trước biển cả, đại dương : thơ Hữu Phương, về chốn cũ, gặp lại người thương, rồi cũng ra đi ;  thơ Phú Sĩ, chàng thanh niên mơ chân trời rộng mở, cũng đã để lại người thương bến cũ,  vạch lại hải trình lướt sóng đại dương ; xin hãy lắng nghe nhà thơ Phú Sĩ :

 

Biển ơi cho ta màu áo
Đẹp như lòng mới vào đời
Đêm về lang thang bải cát
Mà hồn bay bổng ngoài khơi
…………………………………………………………..
 
Trùng dương thôi xin gởi lại

Người tình yêu dấu ta thương
Con tàu ngày đêm xuôi ngược
Mình ta côi cút dặm trường
(Áo trắng biển xanh)

 Trời nước bao la đã cuốn hút không biết bao văn nhân, thi sĩ, người mạo hiểm, nhà hàng hải vào nếp sống của người đi biển, của những cuộc hải hành phiêu lưu, mạo hiểm hay những hành trình vượt đại dương, thực hiện thám hiểm các cực băng hà thiếu dấu chân người ;  đã để lại  nhiều tác phẩm trên nhiều lãnh vực thi-văn-hoạ cho hậu thế.
   Nhà nữ hàng hải nổi danh của Pháp, Florence Arthaud, vượt Đại Tây Dương một mình năm 1978, mới 20 tuổi và năm 1990, giựt giải nhất trong cuộc đua thuyền buồm cá nhân, vượt Đại Tây Dương từ bờ Saint-Malo (Pháp) đến Pointe-à-Pitre (Guadeloupe) kể lại cảm nghĩ trước trời  biển, trong tác phẩm " Ngọn gió tự do" (Un vent de liberté) :
  "Tôi thích thưởng thức những khoảnh khắc thư thái một mình ở biển khơi, không đám đông, chỉ có mình tôi với giấc mơ, tư tưởng, và lòng ham thích vượt thoát của tôi … tôi yêu sự bí mật của biển cả … " (Je savoure mes délicieux moments seule au large, sans public, seule avec mes rêves, mes pensées, mes désirs d’évasion …j’aime le mystère de la mer …)
  Cho nên, con người đơn độc giữa trời biển bao la, là một thử thách đầy nghị lực, thể hiện qua tinh thần can đảm chống chỏi với thiên nhiên. Và từ đó mà bao thi-văn- nhân đã cảm tác về không gian biển trời xa xăm, chân trời vô tận.
  Những vần Thơ Biển, như đã trình bày trên của nhà thơ Hải quân Tôn Thất Phú Sĩ, tập trung lại với tôn-ý Tưỡng Niệm nhà thơ Hữu Phương đã quá vãng, cố Phó Đề-Đốc Nguyễn Hữu Chí, chứa chan tình cảm từ tuổi vào đời, đã chọn hải nghiệp cho mình, một hành trình dài, biển cả bao la ; thoả mộng hải hồ, có quay về chăng là hạ cánh buồm xếp lại nhưng dây, buồm vẫn còn giữ lại đó, mai đây, cánh buồm trương lên, gió lộng ra khơi mộng viễn-du tiếp tục.
   Xuyên suốt những bài Thơ Biển cũng như các sáng tác đã được phổ biến qua hai Tập Thơ BẾN ĐỢI 1 và 2 , đã biểu thị  những tư tưởng cao quý của lễ giáo Đông Phương : tình mẫu tử (Mẹ Ơi Biển Gọi) ; tính chung thuỷ  " Trăm năm anh theo biển, Trăm năm em theo anh …" (Trăm Năm) ;  tình yêu quê hương suy tư cho ngày tháng tha phương "Hàn Giang nước chảy tuôn ra biển, Quê hương cay đắng lệ đầy vơi" (Đông Về Nhớ Biển Tiên-Sa) ; và dù ở trời Tây xa xôi, bên bờ sông Seine, lặng ngắm dòng sông, mơ tưởng quê nhà "Nhớ dáng thân quen, nhớ mẹ già" (Buổi Sáng Đi Dạo Bờ Sông Seine) .
    Nhưng chưa hết, vì thời cuộc mà phải đành đoạn lìa bỏ con tàu, nổi đau buồn chia ly len lấn tâm tư  nhà thơ, từ giã biển "nước mắt ướt quanh mi" (Ngơ Ngác Giữa Âm Xa) ; nay hải âu không còn bay theo tàu, theo người thuỷ thủ, nhà thơ nhân-cách-hoá hải âu, cánh chim lià đàn "Con chim biển khóc tình sao Bắc Đẩu" (Ngơ Ngác Giữa Âm Xa) ; tình cảm thật trọn vẹn gắn bó giữa nguời, con thuyền cũ và loài chim biển đã một thời là bạn đồng hành tưởng như không chia lià được !

 Hôm nay, nói về Thơ Biển của nhà thơ Phú Sĩ, không khỏi chạnh lòng tưởng nhớ đến nhà thơ Hữu Phương  đã quá vãng, để lại bao thương tiếc trong lòng người yêu thơ, cũng như đối với  những người khoát cùng màu áo : nhơn cách cao quý của Người ; mà nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ   bày tỏ lòng thành kính Tưởng Niệm Nhà Thơ Hữu Phương,  vị chỉ huy cao cấp của Quân chủng Hải quân, bằng đoá hoa thơm kết bằng "THƠ BIỂN".--

 

NGUYỄN VĂN QUANG
Cựu Hải Quân Trung Tá VNCH , Khoá 7

Strasbourg FRANCE 

     

137  

Ảnh chụp tại Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Duyên Phòng CTF-213 tại Vịnh Cam Ranh, thời kỳ Hải Quân Hoa Kỳ và Hải Quân Việt Nam cùng phối hợp hoạt-động ; trước khi bàn giao quyền chỉ huy cho Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà. 

Trong ảnh, nhiều Sĩ Quan và nhân viên Hải Quân Việt, Mỹ. Người đứng trên hàng đầu là Hải Quân Đại Tá NGUYỄN HỮU CHÍ , người đứng hàng thứ nhì, bên tay trái của Đại Tá Chí là Hải Quân Đại Tá CARL QUANSTROM, Hải Quân Hoa Kỳ, đương kim Tư Lệnh Lực Lượng Duyên Phòng (Commander Task Force).  Ảnh do cựu Hải Quân Đại Tá Nguyễn Bá Trang cung cấp 19 tháng 6 – 2011). 

Phó Đề-Đốc NGUYỄN HỮU CHÍ 

  Ảnh chụp Tác giả bài viết NVQ ( người cao nhất hàng đầu ) trước toà nhà Ban Giám Đốc Hải Quân Công Xưởng Sài Gòn ngày 18 tháng 8-1973

 

. Trích thơ thi hào Charles Baudelaire, "L’Homme et la mer", tác phẩm "LA MER en poésie" ; Collection Folio Junior en poésie, par Pierre Marchand et Vincent Besnier,
© Éditions Gallimard Jeunesse, mai 1998.
. Trích đoạn văn của nhà nữ hàng hải Pháp Florence Arthaud,  tác phẩm hồi ký "Un vent de liberté" ; © Arthaud, Paris, 2009

 

 

Phó đề đốc Nguyễn Hữu Chí*

 viết :

Niềm đau ly xứ lẫn mất mát không còn gì xót xa và bẽ bàng khi nhìn thấy lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ bị ép phải lìa bỏ vị trí của nó. Quốc dân ly tán. Quốc tịch xóa bôi. Mặc dù không vĩnh viễn nhưng sự việc đã xảy ra ngoài ý muốn của con người.

*

Theo sách HẢI SỬ Lược-Sử Hải-Quân VIỆT NAM CỘNG HOÀ , Tác Giả Vũ Hữu San, trang 164 và 165, đã dành chỗ trang-trọng để đề-cập đến các Thi Phẩm của Nhà thơ Hữu Phương, cựu Phó Đề-Đốc Nguyễn Hữu Chí : các "Tập Thơ  " Tâm Sự Người Đi-Biển  "  ,  " Luống-Biển  "  và   "  Neo Tuổi Vàng ".
 
Cũng trên trang 164, Tác Giả Vũ Hữu San có ghi chú về cựu Phó Đề-Đốc Nguyễn Hữu Chí , " Phụ-tá TL/HQ/Hành-Quân Biển.   Ông mất ngày 28-06-1988 tại Hoa kỳ, để lại hai tập bản-thảo thơ  '  Kiếp Lưu-Đày '   chưa phổ-biến  " .

Theo gót Nhà Thơ Hữu Phương

( cựu Phó Đề-Đốc Nguyễn Hữu Chí  ) ,
Niên Đệ Tôn Thất Phú Sĩ  xin gởi những vần thơ về BIỂN  để
tưởng niệm NGƯỜI 

      

 

BIỆT LY
*
Thuở ấy nhà anh cách nhà em
Con sông uốn khúc chảy êm đềm
Hai bờ xuôi mái con đò nhỏ
Chở ánh trăng về bên phía em
*
Vừa mới gặp em anh đã thương
Nhưng em hờ hững chẳng tơ vương
Theo em mòn cả đôi giày mới
Và cả tim hồng mới lớn lên
*
Từ đó anh như kẻ không hồn
Đi tìm chút nắng cuối hoàng hôn
Vết thương đầu đời ai có biết
Bao mùa lá rụng vẫn còn đau
*
Rồi bỗng một ngày em hiểu anh
Tình ta vằng vặc ánh trăng rằm
Là ngày anh xuống con thuyền nhỏ
Nợ tang bồng theo cuộc chiến chinh
*
Giây phút chia tay thật não lòng
Dòng sông nước chảy cũng nao nao
Bờ chờ bến đợi đưa tay vẫy
Giọt lệ không rơi mắt lại nhoà

*
Tôn Thất Phú Sĩ
Paris 2004
 

 

XIN ĐỪNG HỎI BIỂN

 *
Người ơi! sóng nước trùng khơi
Lòng ta hạt muối mặn môi người tình
Hỏi làm chi, cứ lặng thinh
Để nghe biển hát một bài tình ca

*
Bờ cát trắng, chân trời xa
Dấu chân kỷ niệm thiết tha ngọn triều
Thuyền ra cửa biển tiêu điều
Người đành ở lại trăm chiều quạnh hiu

*
Sóng cao bão nổi tơi bời

 Thương nhau biển vẫn muôn đời màu xanh
Trách làm chi biển mênh mông
Biết đâu là bến mà trông mà chờ

*
Thuyền theo trăng nước lững lờ
Tình em gởi lại bên bờ Đại Dương

tôn thất phú sĩ
Paris 2005

 

BỀNH BỒNG BIỂN KHƠI

*
Ngày xưa xưa thật là xưa
Em tôi tóc ngắn giày cao má hồng
Trời hành tôi đứng ngẩn trông
Em tôi tóc ngắn má hồng ngó lơ

*
Tôi về nắn nót bài thơ
Con tằm trong kén nằm chờ nhả tơ
Tơ tằm chưa dệt thành mơ
Con tằm đã chết mộng hờ thiên thu

*
Trên đồi thông gió vi vu
Có con bướm lượn nhởn nhơ cánh vàng
Bướm sao cứ mãi lang thang
Phấn hồng bướm thả mênh mang đất trời

*
Thuyền tôi từ độ ra khơi
Biển xanh sông rộng chơi vơi giữa dòng
Em tôi má vẫn còn hồng
Đời tôi vẫn cứ bềnh bồng biển khơi

*
Tôn Thất Phú Sĩ
Paris - 29 Avril 2005


NGƠ NGÁC GIỮA ÂM XA
*

Thôi đã hết nay xin từ giã biển
Vẫy tay chào nước mắt ướt quanh mi
Ta muốn gởi cho ai lời trăn trối
Biết biển buồn khi tiễn một người đi

*
Trong yên lặng nhìn trùng khơi thức giấc
Màn đêm đen lùi khuất sau chân trời
Biển hiểu không khi vừng Đông rực sáng
Lòng nhớ nhung ta nuối tiêc ... Biển ơi !

*
Sóng vẫn vỗ vào mạn thuyền già cỗi
Điệu ru mềm hôn mái tóc rong rêu
Ta và Thuyền lặng nhìn nhau lần cuối
Để ngàn đời ngơ ngác giữa âm xa

*
Cõi trần gian mong manh là bọt sóng
Tan vỡ dần theo gió khóc phân ly
Ta đã đến khi biển thầm thì gọi
Giờ ra đi biển có nhớ nhung gì

*
Con tàu đó xác thân vùi trong cát
Nửa thân tàn nằm yên ngủ thâm sâu
Nửa thân kia vương víu vọng trời cao
Con chim biển khóc tình sao Bắc Đẩu

*
Ta cùng tàu quảng đời dài gắn bó
Hải âu bay quấn quít suốt một thời
Giờ buông tay nhìn biển xanh chới với
Ta xin làm con sóng vỗ về em

*
Tôn Thất Phú Sĩ

Paris Fevrier 2006

ÁO TRẮNG BIỂN XANH

*
Biển ơi ! cho ta màu áo
Đẹp như lòng mới vào đời
Đêm về lang thang bãi cát
Mà hồn bay bổng ngoài khơi

*
Biển ơi ! sao ta cứ gọi
Tàu đi biền biệt không về
Đời ta chỉ là bọt sóng
Tan rồi sau kiếp đam mê

*
Biển ơi ! cho ta giòng máu
Giang hồ từ thuở mẹ sinh
Ta đi biển xanh màu nước
Ta về biển trắng bạc tình

*
Vào biển lòng ta phơi phới
Tuổi xuân dâng trọn cho đời
Vỗ về sóng nuôi ta lớn
Miệt mài theo sóng biển ơi !

*
Trùng dương thôi xin gửi lại
Người tình yêu dấu ta thương
Con tàu ngày đêm xuôi ngược
Mình ta côi cút dặm trường

*
Một chòm sao rơi trên tóc
Một mảnh trăng soi giữa dòng
Chừ ta là con ốc nhỏ
Mượn hồn sóng vỗ đại dương

*
Tôn Thất Phú Sĩ
Paris 2005

CHUYẾN TÀU CUỐI

*
Xa tàu rồi buồn vương vương tóc trắng
Nhớ mênh mang con sóng vỗ mạn thuyền
Tấm Hải đồ chợt sáng trưng trong nắng
Hải âu bay tưởng suối tóc em mềm

*
Tàu thả neo ta nằm im mơ mộng
Nghe thì thầm như tiếng mẹ ru con
Ta với tàu cả một đời giao động
Giờ tàu đi , ta côi cút mõi mòn

*
Tàu nhấp nhô lòng càng thêm đau đớn
Hồn chơi vơi theo tiếng máy rì rầm
Biển dỗi hờn theo em vào tuổi lớn
Đợt sóng ngầm ray rứt mối tình câm

*
Cuối Hải trình mơ thấy mình hoá thạch
Như Tượng nàng trông đợi bóng tình quân
Tàu đi xa nhẫn tâm không quay lại
Nhớ biển nhớ thuyền nước mắt rưng rưng

*
Con dã tràng xe từng viên cát nhỏ
Anh mơ màng đếm từng ngày ... ngày qua
Trong nuối tiếc dường như mình trẻ lại
Theo con tàu phiêu bạt khắp miền xa

*
tôn thất phú sĩ
Paris 2005

 

 

*

 

MẸ ƠI BIỂN GỌI

*

Con ốc nhỏ chôn mình trong cát trắng
Mà lòng như chứa cả một đại dương
Nghe vi vu từ ngàn xưa vất vưởng
Rồi thì thầm từ hồn ốc mênh mông

*

Mẹ sinh con bên bờ cong chữ S
Bài hát ru theo chiếc võng đù đưa
Lời mẹ êm thiết tha tình biển gọi
Võng tròng trành theo nhịp tàu đong đưa

*

Nghe biển gọi, con mơ làm thủy thủ
Ngày xuống tàu hồn bỗng thấy lao xao
Ôm mẹ yêu, vòng tay đầy mộng ảo
Tiễn con đi quanh mẹ gió rì rào

***
Chiều xuống thấp mây rơi trên đỉnh núi
Cánh chim bay lãng đãng bóng hoàng hôn
Con dã tràng se từng viên cát nhỏ
Giương cái càng che khuất nửa vầng trăng

*

Ánh trăng vàng rơi tràn trên biển vắng
Ngọt như dòng sữa mẹ đã nuôi con
Mẹ ơi mẹ giữa trùng dương dậy sóng
Lòng mẹ bao la hơn biển Thái Bình dạt dào

*

tôn thất phú sĩ

01 Mars 05
*Lời bài hát Lòng mẹ của Y-Vân

XIN ĐỪNG TRÁCH

*

Vừa biết yêu anh lỡ lầm yêu biển
Tháng năm dài theo con tàu lênh đênh
Bước phiêu du nhiều khi nghe hiu quạnh
Neo tuổi vàng giữa sóng nước mông mênh

*

Ngày xưa đó khi chúng mình mới lớn
Em yêu anh sao chẳng nói năng gì
Anh cứ ngỡ tình yêu là mộng mị
Là si mê là mơ ước viễn vông

*

Em giấu kín nên anh nào có hiểu
Lời tỏ tình câm nín nghẹn bờ môi
Đôi lúc thấy mắt em buồn vời vợi
Anh tưởng chừng hoa biển lững lờ trôi

*

Điều đơn giản mà sao em e ngại
Để nỗi lòng ray rứt cõi riêng tư
Bao nhiêu lần tàu quay về bến cũ
Em lặng thầm tư lự nỗi chờ mong

*

Bởi câm nín nên đời thành dang dở
Tàu trở về tàu lại bỏ ra đi
Sóng xô bờ rộn ràng miền đất lạ
Anh xa rồi cay đắng hoá thành thơ

*

tôn thất phú sĩ

  

Par phusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Jeudi 23 juin 2011 4 23 /06 /Juin /2011 22:38

 

Những Vần Thơ BIỂN của  TÔN THẤT PHÚ SĨ
Nhân Ngày Tưỏng Niệm Nhà Thơ HỮU PHƯƠNG ,
cố Phó Đề-Đốc NGUYỄN HỮU CHÍ
   

 

Phó đề đốc Nguyễn Hữu Chí  - 1975 

 

      Nhà Thơ HỮU PHƯƠNG không còn nữa, cố Phó Đề-Đốc NGUYỄN HỮU CHÍ đã mất sáng ngày 28 tháng 6 năm 1988 tại Hoa Kỳ !
Hình ảnh của một thi-sĩ Hải quân với những vần thơ giàu lòng nhân ái, nặng tình biển cả, tha thiết với quê hương nay đã quá vãng nhưng luôn để lại trong lòng người yêu thơ cảm tình nhân hậu, nhơn cách cao quý của Người đă khuất.  Và  đối với những người đã có thời cùng khoát chung màu áo, cố Phó Đề-Đốc đã ra đi vĩnh viễn, song hình ảnh của Người đã cùng tham gia trận mạc khắp vùng sông nước, hay hành quân hải kich dũng cảm, tận hậu tuyến của đối phương đầy hiểm nguy, mà chiến thắng không được ghi danh, sẽ không bao giờ phai lạt trong ký ức kính phục thương tiếc của biết bao chiến sĩ Hải quân !
 

    Mấy hôm trước, xuất hiện trên trang Blog của nhà thơ Hải quân Tôn Thất Phú Sĩ : " "Theo gót Nhà Thơ Hữu Phương ‘cựu Phó Đề-Đốc Nguyễn Hữu Chí ‘ Niên Đệ Tôn Thất Phú Sĩ xin gởi những vần thơ về BIỂN để tuởng niệm Người" . Tuy lời văn ngắn ngủi nhưng bao hàm biết bao tình cảm quý trọng, nhắc nhở cho những người đã có thời phục vụ trên chiến hạm, chiến đỉnh hay ở hải đảo xa xôi, hình ảnh của vị chỉ huy đã vĩnh biệt , song còn lưu lại bao kỷ niệm trong đời quân ngủ đối với cả quân chủng. Trên trang Blog, những bài Thơ Biển của Tôn Thất Phú Sĩ đã sáng tác bao năm tháng qua, được góp lại để tưởng nhớ thi nhân, bậc Đàn Anh đã quá vãng ở hải ngoại 23 năm trước !
 

    Khi đọc dòng chữ tưởng niệm này, người viết không khỏi nhớ lại kỷ niệm cũ, năm 1965, phục vụ dưới quyền của vị chỉ huy nay đã quá vãng, trong một đại đơn vị Hải quân ở Đà Nẵng. Phong cách đức độ của vị chỉ huy thể hiện qua sinh hoạt hằng ngày, gần gủi thuôc cấp, ân cần với các cấp Sĩ quan. Thời ấy, tác phẩm "Luống Biển" của nhà thơ Hữu Phương đã được xuất bản ; người viết rất hân hạnh được tác giả đề tặng tập thơ, hơn bốn mươi lăm năm qua.
 

      Trong ký-ức hồi nhớ qúa-khứ , phục vụ quân chủng Hải quân, thời gian tại Đà Nẵng, người viết đựợc tháp tùng vị chỉ huy trưởng theo đoàn khinh-tốc-đỉnh dưới màn đêm bao phủ, rẻ sóng tiến ra Biển Bắc.  Hay những năm trên chiến hạm, trên bờ ở Hải xưởng Sài Gòn, Thuỷ xưởng miền Tây, sửa chữa kỹ thuật cho các giang đoàn,  hoặc cùng đoàn chiến đỉnh hành quân, trục vớt tàu chìm : đồng Tháp Mười, sông rạch đồng bằng Sông Cửu Long. Người quân nhân áo trắng, cuộc sống thường nhật với trời biển bao la, những chuyến công tác tuần dương, tiếp tế,  hải hành dài ngày, tới tận hải đảo xa xôi hay miền cát trắng, thường mang theo nổi mong nhớ người thân ở bến nhà, những ước mơ về tình yêu, ấp ủ mối tình thoáng mộng, hay thả hồn theo mộng tưởng đã hun-đúc thành nhiều nhạc sĩ, hoạ sĩ , thi sĩ tài hoa, nhà văn nổi tiếng. Họ đã sáng tác nhiều tác phẩm văn chương nghệ thuật từ thơ, văn, nhạc  thơ mộng,  trữ tình cho đến các bức hoạ nhuốm màu sắc của trời xanh, hoa biển trắng, cát vàng, rực hồng ánh bình minh… 
 
    Trong số những thi-văn-nhân, nhạc sĩ, hoạ sĩ nổi danh ấy có nhà thơ TÔN THẤT PHÚ SĨ, một Sĩ quan Hải quân.  Sinh trưởng ở Đà Nẵng nơi có dòng Sông Hàn, bán đảo Sơn Trà, Ngủ Hành Sơn với biển rộng bao quanh, phong cảnh hữu tình, nên đã ôm ấp nếp sống với giấc mộng viễn du ; và theo dấu chân của vị đàn anh nhà thơ HỮU PHƯƠNG, đã cảm tác nhiều vần thơ kỷ niệm về tuổi học trò, về tình yêu, quê hương , đặc biệt những bài thơ về Biển.  

   Nhà thơ Phú Sĩ trong những năm qua, đã cùng nhà thơ Kim Thành, nguyên cựu Giáo sư  trường Trung học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, trường Trung hoc Võ Tánh, Nha Trang đã xuất bản hai Thi Tập "BẾN ĐỢI 1"  và  "Bến ĐỢI 2" đã được bạn đọc yêu thơ khắp nơi ngưỡng mộ, đón nhận.
Dưới đề mục  "Những  Vần Thơ BIỂN của Tôn Thất Phú Sĩ " , nhà thơ đã khéo ghi xuất xứ của bài thơ trích từ hai Thi phẩm đã xuất bản ; bao gồm 38 bài thơ của nữ sĩ Kim Thành, 39 bài của nhà thơ Phú Sĩ trong "BẾN ĐỢI 1" ; 40 bài của Kim Thành, 40 bài của Phú Sĩ trong "BẾN ĐỢI 2" .

   Trong phạm  vi những Vần Thơ Biển, có rất nhiều tựa đề mà chỉ mới đọc lên, đã hình dung hình ảnh của mộng hải hồ, hay từ biệt để theo tàu ra đi, đến bến bờ xa xôi , chân trời rộng mở, biển cả bao la, hiện lên trong trí tưởng của người đọc khi gặp các bài thơ  "Mẹ Ơi Biển Gọi",  "Biệt Ly", "Xin Đừng Hỏi Biển", "Áo Trắng Biển Xanh", "Bồng Bềnh Biển Khơi"  …
Miền Trung, sông Hàn đổ vào vịnh Đà Nẵng, hướng ra cửa biển, khung cảnh trời biển hùng vĩ này đã để lại cho nhà thơ Hải quân biết bao mộng tưởng tương lai, viễn du đến chân trời xa lạ. Hồi tưởng thuở ấu thơ, nhà thơ mường tượng về :
 
Mẹ sinh con bên bờ cong chữ S
Bài hát ru theo chiếc võng đù đưa
Lời mẹ êm thiết tha tình biển gọi
Võng tròng trành theo nhịp tàu đong đưa
(Mẹ Ơi Biển Gọi)
 
Và ngày bước vào đời với mộng viễn-du : ý thơ dạt dào lòng yêu biển, mơ về trời cao biển rộng như gởi gấm vào đó tuổi xuân hay tâm hồn mình, tiếng sóng vổ về , ý tưởng của nhà hàng hải với biển như bất phân ly qua những câu sau :
 
Vào biển lòng ta phơi phới
Tuổi xuân dâng trọn cho đời
Vỗ về sóng nuôi ta lớn
Miệt mài theo sóng biển ơi !
(Áo Trắng Biển Xanh)
 
   Tư tưởng này không khác tư duy của  thi hào Pháp Charles Baudelaire (1821 – 1867) , trong bài thơ có tựa đề    "Con người và biển"   ("L’homme et la mer"). Nguyên bản và phỏng dịch. Mô tả trong bài thơ là người yêu biển mang suy tư về cuộc đời, lấy biển để tự soi lòng mình.
 
« Homme libre, toujours tu chériras la mer!
La mer est ton miroir, tu contemples ton âme
Dans le déroulement infini de sa lame
Et ton esprit n'est pas un gouffre moins amer. »
Hởi người tự do, phải chăng luôn yêu biển !
Gương soi là biển, ngươi tự lặng ngắm linh hồn
Bất tận làn sóng cuốn
Tinh thần sầu thảm không hẳn bên bờ vực sâu.
 
   Thơ Phú Sĩ cũng đậm nét trữ tình, có mối tình phớt qua đầy tính lãng mạn, cho đến khi tưởng như ước mơ đã thành hiện thực thì con thuyền nhỏ đã đưa đi xa ; rồi giờ phút chia tay đến đã rơi  lệ  :
 
Rồi bỗng một ngày em hiểu anh
Tình ta vằng vặt ánh trăng rằm
Là ngày anh xuống con thuyền nhỏ
Nợ tang bồng theo cuộc chiến chinh
……………………………………………
Bờ chờ bến đợi đưa tay vẫy
Giọt lệ không rơi nước mắt lại nhoà
(Biệt Ly)
 
   Những mối tình trong thơ, mang tính trong trắng và rất nên thơ của đôi bạn, nhưng tâm hồn của người thanh niên nặng tình biển cả, vì biển như có sức cuốn hút vào nếp sống ngắm nhìn chân trời bao la ;  nên :
 
Tháng năm dài theo con tàu lênh đênh
Bước phiêu du nhiều khi nghe hiu quạnh
Neo tuổi vàng giữa sóng nước mông mênh
………………………………………………..
Bao nhiêu lần tàu quay về bến cũ
Em lặng thầm tư lự nổi chờ mong
(Xin Đừng Trách)
 
   Trong tâm hồn mang nặng lòng yêu biển, nếp sống có trời cao biển rộng, thì  bên " tình biển" bên  "tình em " , dẫu cho "Em và biển tình yêu anh rộng mở" , nhưng sau những ngày con tàu trở về yên nghỉ, rồi theo tiếng biển gọi, lại ra đi :
 
Chiều xuống thấp con tàu nằm yên nghỉ
Ngày tháng phiêu bồng hải âu cánh mỏi
Gió trùng khơi thì thầm như muốn gọi
Ngày mai này anh vào biển xa em
(Tình Biển và Tình Em)
 
  Do đó, biết là "Lòng ta hạt muối mặn môi người tình", liệu nhà hàng hải ấp-ủ mộng viễn-du trong cuộc, có dừng bước bên mối tình thơ mộng ấy, để cùng nhau hướng về một chân trời  chứa chan niềm hy vọng, hay "Thuyền  theo trăng nước lững lờ" ? Xin hãy cùng nghe lời tình tự :
 
Bờ cát trắng, chân trời xa
Dấu chân kỷ niệm thiết tha ngọn triều
Thuyền ra cửa biển tiêu điều
Người đành ở lại trăm chiều quạnh hiu
(Xin Đừng Hỏi Biển)
 
  Sống giữa biển trời bao la, ngày gió êm biển lặng hay cuồng phong bảo táp, đêm khuya trời biển tối đen một màu, dưói những vì sao cao thẳm, khí lạnh về khuya, cổ áo kéo cao, người thuỷ thủ không khỏi cảm thấy bé nhỏ trước thiên nhiên.  Sóng vổ mạnh vào mạn tàu hoà cùng tiếng máy chạy, nghe gió rít, cảm giác đơn độc trong đêm hải hành, lẻ loi như bên mình chỉ có ánh sao xa xăm  dẫn đường.  Nhà Thơ Hải quân trong đêm dài giữa đại dương hay biển cả, sống với biển nhưng hình bóng người yêu luôn trong tâm tưởng ; cảm nhận sâu xa và rung-cảm của tác giả :
 
Sao Bắc Đẩu dẫn đường
Bên em và bên biển
Bên nào cũng vấn vương
Ngọn Hải Đăng rực sáng
Soi tình em khát khao
Trời mây nước xôn xao
……………………………………………..
Anh yêu em như anh yêu biển
Biển trong hồn và em ở trong tim
(Con Tàu Và Biển)
 
   Tính lãng mạn về tình yêu của nhà thơ Hải quân, biểu thị rõ nét trong những vần THƠ BIỂN, tình yêu đến như ánh sáng chói loà, như làn hương lan toã, hay hình bóng diễm kiều cao xa mà nhà hàng hải vốn mơ về mộng viễn-du cũng có giây phút xiêu lòng, cũng mong "dòng lá thắm" (Kiều. "Dòng lá thắm" sự tích Đời Đường lá đỏ đề thơ từ dòng ngự câu trôi ra…) ; nhưng thương thay tằm chưa nhả hết tơ  đã chết :
 
Tơ tằm chưa dệt thành mơ
Con tằm đã chết mộng hờ thiên thu
(Bồng Bềnh Biển Khơi)
 
  Trong văn hoá dân gian, con tằm rút ruột nhả tơ, thành con ngài có cánh rồi hoá bướm. Chuyện kể về tằm hoá bướm đã làm đầu đề thêu dệt cho bao nhiêu chuyện tình tưởng tượng, chết hóa thành bướm, phong phú nên thơ ; và ngay cả trên thi-đàn cũng có nhiều bài thơ bướm vàng tình tứ.  Ở đây, trong bài " Bòng Bềnh Biển Khơi" , nhà hàng hải khi cuốn buồm lại, dừng chân ngưng nghỉ, lên bờ (trong Hải quân gọi "lên bờ" là về bến),  không khỏi chạnh lòng nhớ kỷ niệm xưa, ngày tháng qua như hoa khép kín, bỗng bừng sáng trong trí tưởng  "em tôi tóc ngắn má hồng …" và cũng đã "nắn nót một bài thơ" .  Qua hai câu thơ vừa dẫn, "tằm đã chết" nhưng nhà thơ đã thi-vị-hoá bướm vàng trên đồi thông, buớm lượn miên mang, nhả phấn hồng khắp đất trời, như tiếc thương cho giấc mơ xưa, nay đã lở làn chỉ còn là mộng tưởng, không về được bên hình bóng cũ :
 

Trên đồi thông gió vi vu
Có con bướm lượn nhởn nhơ cánh vàng
Bướm sao cứ mãi lang thang
Phấn hồng bướm thả mênh mang đất trời
………………………………………………
Thuyền tôi từ độ ra khơi        
Biển xanh sông rộng chơi vơi giữa dòng
Em tôi má vẫn còn hồng
Đời tôi vẫn cứ bồng bênh biển khơi
(Bồng Bềnh Biển Khơi)
 
Nhà thơ Hải quân qua hai Thi Phẩm "BẾN ĐỢI 1" và  "BẾN ĐỢI 2"  đã không dấu giếm nói lên tâm sự của mình, nổi lòng của người trước thế cuộc, đã nhắc tới dòng Hương giang ("Huế Trong Tôi"), Sông Cửu ("Mỹ Tho Quê Hương Em") , và như "gió cuốn mây trôi " tới tận trời Tây, ngắm dòng Sông Seine ("Buổi Sáng Đi Dạo Bờ Sông Seine"),  nhưng hồi-tưởng quê nhà : "…Sáng nay thương quá dòng sông nhỏ,  Quay quắt trong tôi nổi nhớ nhà" .
  Và ngày giã từ biển cả, nhà thơ Hải quân giã từ cuộc chiến trong uất nghẹn, không khỏi xúc động diến tả qua vần thơ u-uẩn :
 
Thôi đã hết nay xin từ giã biển
Vẫy tay chào nước mắt ướt quanh mi
Ta muốn gởi cho ai lời trăn trối
Biết biển buồn khi tiễn một người đi
(Ngơ Ngác Giữa Âm Xa)
 
Dù phải gĩa từ biển cả, nhưng nhà hàng hải không quên con tàu với mình đã trải qua bao hải trình, tình cảm gắn bó với con tàu như bóng với hình ; con tàu nằm đó, hải âu không còn bay theo tàu đến cuối trời ; chính loài chim biển từng là bạn đồng hành với con tàu trong bao nhiêu năm tháng giữa trời biển ; nay phải xa lià cảnh cũ như cùng cảm thông nổi buồn :

 
Ton-That-Phu-Si.jpg 

1964

 

Con tàu đó xác thân vùi trong cát
Nửa thân tàn nằm yên ngủ thâm sâu
Nửa thân kia vương víu vọng trời cao
Con chim biển khóc tình sao Bắc Đẩu
( Ngơ Ngác Giũa Âm Xa )
 

    Dù phải giã từ biển cả, nhưng nhà hàng hải không quên con tàu với mình đã trải qua bao hải trình, tình cảm gắn bó với con tàu như bóng với hình ; con tàu nằm đó, hải âu không còn bay theo tàu đến cuối trời ; chính loài chim biển từng là bạn đồng hành với con tàu với người thuỷ thủ dù trước sóng to gió lớn, trong bao nhiêu năm tháng giữa trời biển ; nay phải xa lìa cảnh cũ như cùng cảm thông nổi buồn :

 

Con tàu đó xác thân vùi trong cát
Nửa thân tàn nằm yên ngủ thâm sâu
Nửa thân kia vương víu vọng trời cao
Con chim biển khóc tình sao Bắc Đẩu
( Ngơ Ngác Giữa Âm Xa )

 

   Nhà thơ Hữu Phương, cố Phó DeDốc Nguyễn Hữu Chí, tốt  nghiệp khoá 3 Trường Sĩ quan Hải quân (SQ HQ) Nha Trang. Trong Hải quân, đặt tên khoá theo 12 cung trên Hoàng Đạo, khoá 3 là Đệ Nhất Song Nam.
  Sau khoá 3, kế tiếp 12 khoá đào tạo Sĩ quan Hải Quân cũng tại Trường SQ HQ Nha Trang , tức khoá 15 ; tên của khoá này là Đệ Nhị Song Nam.  Nhà thơ Hải quân Tôn Thất Phú Sĩ  tốt nghiệp khoá 15. Dòng thơ từ vị Sĩ quan đàn anh là thi sĩ Hữu Phương, tốt nghiệp cùng trường, như  đã theo truyền thống Hải quân truyền lại cho Sĩ quan đàn em, nhà thơ Phú Sĩ .
  Theo sách  "Hải Sử - Lược Sử Hải Quân Viêt Nam Cộng Hoà" , Tác giả  Vũ Hữu San, nhà thơ Hữu Phương đã xuất bản ở Sài Gòn trước 1975 , 3 Tập Thơ :  "Luống Biển", "Tâm Sự Người Đi Biển", "Neo Tuổi Vàng".  Và tại Hải Ngoại, sáng tác nhiều thời kỳ, các bản thảo Tập Thơ có tựa đề "Kiếp Lưu Đày" gồm nhiều tập. 
   Một số di-cảo, những trang thơ, đánh máy trên giấy mỏng đã cũ, mực nhoè, sau gần 50 năm ; đã được gia đình cố Phó Đề Đốc lưu trử và đã đưa lên Internet để vừa phổ biến dễ dàng và vừa cất giữ cẩn thận khỏi bị hư hỏng. Qua đó, đã tìm thấy nhiều bài thơ, có ghi ngày vắng tắc, thí dụ  "29-09-65.." hay  "ĐN-03-08-65..." ; được hiểu là sáng tác tại Đà Nẵng ngày 03 tháng 8 năm 1965 ; thời gian ấy nhà thơ là một Sĩ quan cấp Tá đang chỉ huy một đại đơn vị Hải Quan tại Đà Nẵng. 
  

    Hai nhà thơ Hải quân, tốt nghiệp cách nhau 12 khoá, nhưng cùng mang tên khoá Song Nam :  Đệ Nhất Song Nam khoá đàn anh, Đệ Nhị Song Nam khoá đàn em ; như thể có mối liên hệ, truyền cảm vô hình, kỳ diệu.  Cả hai nhà thơ đều có tâm hồn yêu biển, nặng tình trời biển bao la, tha phương nhớ tưởng quê hương, đã sáng tác rất nhiều bài thơ  tình cảm,  những mối tình tha thiết, đắm đuối trong mộng tưởng mà cuối cùng chỉ lưu lại trong tâm tư kỷ niệm lưu luyến, mơ tưởng và hoài niệm.
  

    Bài thơ  "Tình Biển" của Hữu Phương, nhà hàng hải rời xa quê cũ, nơi đó có  người thương, bỗng có ngày trở về giây phút hồi tưởng ngày ra đi  "lúc giã từ, tiếng chân lui mãi" và gặp lại người thương lòng hân hoan mừng rở :

 

Thế về đây công viên xưa còn đó
Hoa đang mùa rực rỡ dưới trời mai
Em vui mừng run rẩy cả bờ vai
Tóc bỏ xoả lưng chừng nghe âu yếm
Rừng lan trắng một mình em kiều diễm
Chính vì em : Chúa tể các loài hoa
(Tình Biển)

  

   Nhưng cuộc đời theo mộng hải hồ, nhà hàng hải không bỏ biển, trở về với trời cao,  chân trời bao la, biết là đi xa nhung nhớ, mơ tưởng ; nhưng nghe tiếng gọi của biển, đã tiếp tục dương cao ngọn buồm lộng gió, thuyền tách bến ra khơi, mơ như có người thương theo suốt hải trình :

Mỗi lần xa, tôi nhớ nước cùng mây
Mỗi lần xa, tôi nhớ dáng em gầy
Em là sóng … nụ cười lên hoa trắng
(Tình Biển)

 

   Hai nhà thơ, hai vần thơ, cách nhau non nửa thế kỷ, nhưng biết bao tâm tư, rung cảm, mơ ước như cùng một ý thơ, cùng nguồn thi cảm vô bờ trước biển cả, đại dương : thơ Hữu Phương, về chốn cũ, gặp lại người thương, rồi cũng ra đi ;  thơ Phú Sĩ, chàng thanh niên mơ chân trời rộng mở, cũng đã để lại người thương bến cũ,  vạch lại hải trình lướt sóng đại dương ; xin hãy lắng nghe nhà thơ Phú Sĩ :

 

Biển ơi cho ta màu áo
Đẹp như lòng mới vào đời
Đêm về lang thang bải cát
Mà hồn bay bổng ngoài khơi
…………………………………………………………..

Trùng dương thôi xin gởi lại
Người tình yêu dấu ta thương
Con tàu ngày đêm xuôi ngược
Mính ta côi cút dặm trường
(Áo trắng biển xanh)

 

 

Xin viết tiếp để kết thúc …..
Em nghi anh Quang  den day viet ket thuc la  hoan hao roi .
 
1)      Vài nét của Thơ Hữu Phương tương quan Thơ Phú Sĩ,
2)       Dòng Thơ từ ĐỆ NHẤT  SONG NAM Khoá 3 ; đến ĐỆ NHỊ SONG NAM Khoá 15

HinhHQ chup lai     

Ảnh chụp tại Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Duyên Phòng CTF-213 tại Vịnh Cam Ranh, thời kỳ Hải Quân Hoa Kỳ và Hải Quân Việt Nam cùng phối hợp hoạt-động ; trước khi bàn giao quyền chỉ huy cho Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà. 

Trong ảnh, nhiều Sĩ Quan và nhân viên Hải Quân Việt, Mỹ. Người đứng trên hàng đầu là Hải Quân Đại Tá NGUYỄN HỮU CHÍ , người đứng hàng thứ nhì, bên tay trái của Đại Tá Chí là Hải Quân Đại Tá CARL QUANSTROM, Hải Quân Hoa Kỳ, đương kim Tư Lệnh Lực Lượng Duyên Phòng (Commander Task Force).  Ảnh do cựu Hải Quân Đại Tá Nguyễn Bá Trang cung cấp 19 tháng 6 – 2011).

 

NGUYỄN VĂN QUANG
Cựu Hải Quân Trung Tá VNCH , Khoá 7

 

 

HQCX chup lai

  Ảnh chụp Tác giả bài viết NVQ ( người cao nhất hàng đầu ) trước toà nhà Ban Giám Đốc Hải Quân Công Xưởng Sài Gòn ngày 18 tháng 8-1973

Phó đề đốc Nguyễn Hữu Chí*

 viết :

Niềm đau ly xứ lẫn mất mát không còn gì xót xa và bẽ bàng khi nhìn thấy lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ bị ép phải lìa bỏ vị trí của nó. Quốc dân ly tán. Quốc tịch xóa bôi. Mặc dù không vĩnh viễn nhưng sự việc đã xảy ra ngoài ý muốn của con người.

*

Theo sách HẢI SỬ Lược-Sử Hải-Quân VIỆT NAM CỘNG HOÀ , Tác Giả Vũ Hữu San, trang 164 và 165, đã dành chỗ trang-trọng để đề-cập đến các Thi Phẩm của Nhà thơ Hữu Phương, cựu Phó Đề-Đốc Nguyễn Hữu Chí : các "Tập Thơ  " Tâm Sự Người Đi-Biển  "  ,  " Luống-Biển  "  và   "  Neo Tuổi Vàng ".
 
Cũng trên trang 164, Tác Giả Vũ Hữu San có ghi chú về cựu Phó Đề-Đốc Nguyễn Hữu Chí , " Phụ-tá TL/HQ/Hành-Quân Biển.   Ông mất ngày 28-06-1988 tại Hoa kỳ, để lại hai tập bản-thảo thơ  '  Kiếp Lưu-Đày '   chưa phổ-biến  " .

Theo gót Nhà Thơ Hữu Phương

( cựu Phó Đề-Đốc Nguyễn Hữu Chí  ) ,
Niên Đệ Tôn Thất Phú Sĩ  xin gởi những vần thơ về BIỂN  để tưỡng niệm NGƯỜI 

      

 

BIỆT LY
*
Thuở ấy nhà anh cách nhà em
Con sông uốn khúc chảy êm đềm
Hai bờ xuôi mái con đò nhỏ
Chở ánh trăng về bên phía em
*
Vừa mới gặp em anh đã thương
Nhưng em hờ hững chẳng tơ vương
Theo em mòn cả đôi giày mới
Và cả tim hồng mới lớn lên
*
Từ đó anh như kẻ không hồn
Đi tìm chút nắng cuối hoàng hôn
Vết thương đầu đời ai có biết
Bao mùa lá rụng vẫn còn đau
*
Rồi bỗng một ngày em hiểu anh
Tình ta vằng vặc ánh trăng rằm
Là ngày anh xuống con thuyền nhỏ
Nợ tang bồng theo cuộc chiến chinh
*
Giây phút chia tay thật não lòng
Dòng sông nước chảy cũng nao nao
Bờ chờ bến đợi đưa tay vẫy
Giọt lệ không rơi mắt lại nhoà

*
Tôn Thất Phú Sĩ
Paris 2004
 

 

XIN ĐỪNG HỎI BIỂN

 *
Người ơi! sóng nước trùng khơi
Lòng ta hạt muối mặn môi người tình
Hỏi làm chi, cứ lặng thinh
Để nghe biển hát một bài tình ca

*
Bờ cát trắng, chân trời xa
Dấu chân kỷ niệm thiết tha ngọn triều
Thuyền ra cửa biển tiêu điều
Người đành ở lại trăm chiều quạnh hiu

*
Sóng cao bão nổi tơi bời

 Thương nhau biển vẫn muôn đời màu xanh
Trách làm chi biển mênh mông
Biết đâu là bến mà trông mà chờ

*
Thuyền theo trăng nước lững lờ
Tình em gởi lại bên bờ Đại Dương

tôn thất phú sĩ
Paris 2005

 

BỀNH BỒNG BIỂN KHƠI

*
Ngày xưa xưa thật là xưa
Em tôi tóc ngắn giày cao má hồng
Trời hành tôi đứng ngẩn trông
Em tôi tóc ngắn má hồng ngó lơ

*
Tôi về nắn nót bài thơ
Con tằm trong kén nằm chờ nhả tơ
Tơ tằm chưa dệt thành mơ
Con tằm đã chết mộng hờ thiên thu

*
Trên đồi thông gió vi vu
Có con bướm lượn nhởn nhơ cánh vàng
Bướm sao cứ mãi lang thang
Phấn hồng bướm thả mênh mang đất trời

*
Thuyền tôi từ độ ra khơi
Biển xanh sông rộng chơi vơi giữa dòng
Em tôi má vẫn còn hồng
Đời tôi vẫn cứ bềnh bồng biển khơi

*
Tôn Thất Phú Sĩ
Paris - 29 Avril 2005


NGƠ NGÁC GIỮA ÂM XA
*

Thôi đã hết nay xin từ giã biển
Vẫy tay chào nước mắt ướt quanh mi
Ta muốn gởi cho ai lời trăn trối
Biết biển buồn khi tiễn một người đi

*
Trong yên lặng nhìn trùng khơi thức giấc
Màn đêm đen lùi khuất sau chân trời
Biển hiểu không khi vừng Đông rực sáng
Lòng nhớ nhung ta nuối tiêc ... Biển ơi !

*
Sóng vẫn vỗ vào mạn thuyền già cỗi
Điệu ru mềm hôn mái tóc rong rêu
Ta và Thuyền lặng nhìn nhau lần cuối
Để ngàn đời ngơ ngác giữa âm xa

*
Cõi trần gian mong manh là bọt sóng
Tan vỡ dần theo gió khóc phân ly
Ta đã đến khi biển thầm thì gọi
Giờ ra đi biển có nhớ nhung gì

*
Con tàu đó xác thân vùi trong cát
Nửa thân tàn nằm yên ngủ thâm sâu
Nửa thân kia vương víu vọng trời cao
Con chim biển khóc tình sao Bắc Đẩu

*
Ta cùng tàu quảng đời dài gắn bó
Hải âu bay quấn quít suốt một thời
Giờ buông tay nhìn biển xanh chới với
Ta xin làm con sóng vỗ về em

*
Tôn Thất Phú Sĩ

Paris Fevrier 2006

ÁO TRẮNG BIỂN XANH

*
Biển ơi ! cho ta màu áo
Đẹp như lòng mới vào đời
Đêm về lang thang bãi cát
Mà hồn bay bổng ngoài khơi

*
Biển ơi ! sao ta cứ gọi
Tàu đi biền biệt không về
Đời ta chỉ là bọt sóng
Tan rồi sau kiếp đam mê

*
Biển ơi ! cho ta giòng máu
Giang hồ từ thuở mẹ sinh
Ta đi biển xanh màu nước
Ta về biển trắng bạc tình

*
Vào biển lòng ta phơi phới
Tuổi xuân dâng trọn cho đời
Vỗ về sóng nuôi ta lớn
Miệt mài theo sóng biển ơi !

*
Trùng dương thôi xin gửi lại
Người tình yêu dấu ta thương
Con tàu ngày đêm xuôi ngược
Mình ta côi cút dặm trường

*
Một chòm sao rơi trên tóc
Một mảnh trăng soi giữa dòng
Chừ ta là con ốc nhỏ
Mượn hồn sóng vỗ đại dương

*
Tôn Thất Phú Sĩ
Paris 2005

CHUYẾN TÀU CUỐI

*
Xa tàu rồi buồn vương vương tóc trắng
Nhớ mênh mang con sóng vỗ mạn thuyền
Tấm Hải đồ chợt sáng trưng trong nắng
Hải âu bay tưởng suối tóc em mềm

*
Tàu thả neo ta nằm im mơ mộng
Nghe thì thầm như tiếng mẹ ru con
Ta với tàu cả một đời giao động
Giờ tàu đi , ta côi cút mõi mòn

*
Tàu nhấp nhô lòng càng thêm đau đớn
Hồn chơi vơi theo tiếng máy rì rầm
Biển dỗi hờn theo em vào tuổi lớn
Đợt sóng ngầm ray rứt mối tình câm

*
Cuối Hải trình mơ thấy mình hoá thạch
Như Tượng nàng trông đợi bóng tình quân
Tàu đi xa nhẫn tâm không quay lại
Nhớ biển nhớ thuyền nước mắt rưng rưng

*
Con dã tràng xe từng viên cát nhỏ
Anh mơ màng đếm từng ngày ... ngày qua
Trong nuối tiếc dường như mình trẻ lại
Theo con tàu phiêu bạt khắp miền xa

*
tôn thất phú sĩ
Paris 2005

 

 

*

 

MẸ ƠI BIỂN GỌI

*

Con ốc nhỏ chôn mình trong cát trắng
Mà lòng như chứa cả một đại dương
Nghe vi vu từ ngàn xưa vất vưởng
Rồi thì thầm từ hồn ốc mênh mông

*

Mẹ sinh con bên bờ cong chữ S
Bài hát ru theo chiếc võng đù đưa
Lời mẹ êm thiết tha tình biển gọi
Võng tròng trành theo nhịp tàu đong đưa

*

Nghe biển gọi, con mơ làm thủy thủ
Ngày xuống tàu hồn bỗng thấy lao xao
Ôm mẹ yêu, vòng tay đầy mộng ảo
Tiễn con đi quanh mẹ gió rì rào

***
Chiều xuống thấp mây rơi trên đỉnh núi
Cánh chim bay lãng đãng bóng hoàng hôn
Con dã tràng se từng viên cát nhỏ
Giương cái càng che khuất nửa vầng trăng

*

Ánh trăng vàng rơi tràn trên biển vắng
Ngọt như dòng sữa mẹ đã nuôi con
Mẹ ơi mẹ giữa trùng dương dậy sóng
Lòng mẹ bao la hơn biển Thái Bình dạt dào

*

tôn thất phú sĩ

01 Mars 05
*Lời bài hát Lòng mẹ của Y-Vân

XIN ĐỪNG TRÁCH

*

Vừa biết yêu anh lỡ lầm yêu biển
Tháng năm dài theo con tàu lênh đênh
Bước phiêu du nhiều khi nghe hiu quạnh
Neo tuổi vàng giữa sóng nước mông mênh

*

Ngày xưa đó khi chúng mình mới lớn
Em yêu anh sao chẳng nói năng gì
Anh cứ ngỡ tình yêu là mộng mị
Là si mê là mơ ước viễn vông

*

Em giấu kín nên anh nào có hiểu
Lời tỏ tình câm nín nghẹn bờ môi
Đôi lúc thấy mắt em buồn vời vợi
Anh tưởng chừng hoa biển lững lờ trôi

*

Điều đơn giản mà sao em e ngại
Để nỗi lòng ray rứt cõi riêng tư
Bao nhiêu lần tàu quay về bến cũ
Em lặng thầm tư lự nỗi chờ mong

*

Bởi câm nín nên đời thành dang dở
Tàu trở về tàu lại bỏ ra đi
Sóng xô bờ rộn ràng miền đất lạ
Anh xa rồi cay đắng hoá thành thơ

*

tôn thất phú sĩ

  

Par phusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
 
Créer un blog gratuit sur over-blog.com - Contact - C.G.U. - Rémunération en droits d'auteur - Signaler un abus - Articles les plus commentés